Hiển thị các bài đăng có nhãn bênh thoái hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bênh thoái hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013


Thoái hóa đốt sống cổ là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ. Bệnh thường xuất hiện ở người 40-50 tuổi, sử dụng nhiều động tác ở vùng đầu cổ, có cường độ lao động cao (làm suốt ngày không nghỉ),… gây ra nhiều khó khăn trong sinh hoạt và lao động ảnh hưởng đến chất lượng sống cho người bệnh.

Thoái hóa đốt sống cổ
Những ai có nguy cơ mắc?
Thoái hóa đốt sống cổ thường gặp ở những người có tư thế lao động cúi và sử dụng nhiều động tác ở vùng đầu cổ, có cường độ lao động cao (làm suốt ngày không nghỉ) và thâm niên lao động (tuổi nghề): có thể gặp ở người đi cấy (thoái hóa đốt sống cổ và đốt sống lưng), thợ cắt tóc, thợ sơn trần, diễn viên xiếc, bác sĩ chuyên khoa răng,...
Những người có người thân từng mắc căn bệnh này cũng có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn những người trong gia đình không có người bị bệnh. Những người cao tuổi (do quá trình lão hóa  của xương khớp), những người hút thuốc lá,  phụ nữ sau mãn kinh, người dùng thuốc kháng viêm thuộc nhóm corticoid kéo dài có tỉ lệ bị thoái hóa cột sống cổ nhiều hơn người bình thường…

Cách phát hiện?
Giai đoạn đầu của quá trình lão hóa người bệnh không thấy có cảm giác khác thường. Khi bệnh tiến triển một thời gian sẽ xuất hiện các triệu chứng sau: bệnh nhân có cảm giác mỏi vùng cổ-vai, đau vùng cổ-gáy (đôi khi làm nhức đầu), làm hạn chế cử động xoay đầu và cổ, đau có thể lan sang 1 hoặc 2 vai và lan đến 1 hoặc 2 tay, làm tê và giảm cảm giác các ngón tay.  Nếu không điều trị, tùy theo rễ thần kinh chi phối bị chèn ép, đôi khi có cảm giác “kiến bò”, hoặc đau như “điện giật” lan từ vai xuống đến ngón tay, giảm và mất cảm giác, teo cơ hoặc yếu liệt, tay chân. Ở giai đoạn nặng hơn, cảm giác đau xuất hiện thường xuyên hơn và ngày càng tăng, làm hạn chế các hoạt động sinh hoạt của người bệnh, những tổn thương này sẽ khó phục hồi. Khi tổn thương ở đoạn đốt sống C1-C2, C4 này người bệnh còn có biểu hiện nấc, ngáp, chóng mặt...

Các biến chứng có thể gặp
Nếu bệnh nặng có thể gặp các biến chứng  như: các triệu chứng chèn ép thần kinh gây đau dọc từ cổ xuống vai và cánh tay một hoặc cả hai bên; chèn ép các động mạch đốt sống gây đau đầu, chóng mặt; hãn hữu có chèn ép tủy, biểu hiện bằng yếu, đau tứ chi, đi lại khó khăn hoặc liệt không vận động được. Bên cạnh đó, thoái hóa đốt sống cổ gây nên hội chứng tủy với biểu hiện: đi không vững, cảm giác tê ở thân, bàn tay và các ngón tay cử động vụng về, liệt và teo cơ; liệt chân hoặc tay; teo cơ ngọn chi; đi bộ khó khăn; rối loạn cảm giác tê bì ngọn chi trên, mất vận động chi trên; mất vận động chi dưới; rối loạn cơ thắt, đái khó, đái són, đái ngắt quãng...

26000

Tại cơ sở y tế
Để chẩn đoán cũng như đánh giá các loại tổn thương, ngoài việc khám bệnh, bác sĩ phải thực hiện một số các khảo sát hình ảnh: như chụp Xquang cột sống cổ nhiều tư thế, chụp cắt lớp đa lát cắt (MS CTScan), chụp cộng hưởng từ cột sống cổ (MRI), đo mật độ xương (độ loãng xương),…
Tùy theo tình trạng cụ thể ở từng người bệnh mà bác sĩ sẽ quyết định điều trị nội khoa (dùng thuốc) phối hợp với các phương pháp vật lý trị liệu.Thời gian điều trị có thể kéo dài. Nếu việc điều trị nội khoa đúng mức mà bệnh không giảm thì bác sĩ sẽ xem xét khả năng can thiệp thủ thuật hay phải phẫu thuật nhằm lấy đi các thương tổn gây chèn ép thần kinh và làm cho cột sống phần nào được vững chắc trở lại.

Phòng ngừa thoái hóa đốt sống cổ
Để tránh bị thoái hóa cột sống cổ hoặc làm chậm sự tiến triển tiếp tục của thoái hóa cột sống cổ cần thay đổi tư thế làm việc sai lệch, lâu dài. Giữ tư thế đầu-cổ luôn thẳng khi làm việc, tránh những chấn thương cho cột sống cổ như đội vật nặng trên đầu, cúi-ngửa đầu quá mức. Không nên có động tác vặn bẻ cổ đột ngột khi thấy mỏi, bởi tất cả những động tác xoay đầu này sẽ làm tăng thoái hóa đốt sống cổ. Không hút thuốc lá, các chất kích thích có hại cho sức khỏe như rượu, bia,… Cần luyện tập thể dục thể thao nhẹ nhàng, phù hợp với sức khỏe, nên tham khảo ý kiến bác sĩ về phương pháp luyện tập.

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay ở người cao tuổi (NCT) tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng gây cản trở nhiều trong sinh hoạt và cuộc sống hàng ngày.
Càng lơn tuổi, bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay càng dễ phát triển. Thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay là một bệnh khớp gặp ở cả nam lẫn nữ nhưng nữ giới chiếm tỉ lệ cao hơn.
Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay, trong đó tuổi tác và giới tính cần quan tâm nhất. Bệnh thường xảy ra ở người trưởng thành, đặc biệt là NCT, trong đó nữ giới chiếm tỉ lệ 2/3 các trường hợp thoái hóa khớp bàn tay, cổ tay.



Tuổi đời càng càng cao, bệnh thoái hóa khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng càng gia tăng do hiện tượng lão hóa các chức năng của cơ thể đặc biệt đối với nữ giới do suy giảm lượng hoóc-môn sinh dục. Sự thoái hóa khớp là do lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng giảm sút một cách đáng kể và từ từ làm cho tổ chức sụn khớp thiếu chất dinh dưỡng. Trong khi sự thiếu hụt ngày càng gia tăng, sưc chịu đựng của sụn khớp càng ngày càng giảm bởi các tác động hàng ngày, liên tục lên khớp. Những người phải làm việc nhiều với bàn tay của mình như phụ nữ làm công việc nội trợ (giặt giũ, lao động tay chân…), béo phì, gia tăng trọng lượng… càng dễ mắc bệnh thoái hóa khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng.  Sự thoái hóa khớp cũng hay gặp ở bàn tay, ngón tay nào vận động nhiều hơn. Người thuận tay phải thì khớp bàn tay phải va khớp các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa cũng sẽ dễ bị thoái hóa hơn các khớp bàn tay trái không thuận và khi bị thoái hóa thì các khớp bàn tay phải cũng có biểu hiện nặng hơn, thoái hóa, biến dạng khớp nhiều hơn. Trong các trường hợp viêm đa khớp dạng thấp, hiện tượng thoái hóa khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay cũng chiếm tỉ lệ cao hơn các khớp khác.
Ngoài ra, cũng nên đề cập đến hiện tượng thoái hóa khớp do sự thiếu hụt canxi. Tỉ lệ người thiếu hụt canxi chiếm đa số là người lớn, trong đó đáng chú ý nhất là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh.
Thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay cũng có thể gặp sau chấn thương, gãy xương, viêm khớp dạng thấp, bệnh gút hoặc một số bệnh  rối loạn chuyển hóa như bệnh đái tháo đường. Đối với NCT còn có một nguyên nhân nữa là ít vận động cơ thể hoặc lười vận động.
Triệu chứng
Thường bệnh được biểu hiện sau khi nghỉ ngơi một thời gian dài như sau ngủ dậy hoặc sau khi ngủ buổi trưa. Có một số triệu chứng cần quan tâm là đau, cứng khớp.
Đau xảy ra khi vận động, gọi là đau kiểu cơ học và giảm đau khi các khớp được nghỉ ngơi (không cử động, không vận động). Đau chỉ biểu hiện ở mức nhẹ hoặc trung bình, thời gian kéo dài khoảng từ 15 – 30 phút, có khi lâu hơn, tùy thuộc vào mức độ nặng, nhẹ của tổn thương khớp. Các khớp bị đau đôi khi còn bị sưng nhẹ.
Biểu hiện cứng khớp thường rõ ràng hơn nhiều. Cứng khớp xuất hiện lúc mới ngủ dậy buổi sáng sớm hoặc sau giấc ngủ buổi trưa, biểu hiện như khó cứ động hoặc cử động không mềm mại, uyển chuyển và dần dần bàn tay sẽ khó thực hiên các thao tác trong sinh hoạt hàng ngày như cầm nắm đồ vật không chắc (có khi cầm không chắc bị rơi đồ vật)… Các cơ ở bàn tay, ngón tay cũng sẽ bị teo nhỏ dần và các khớp bàn tay, ngón tay bị biến dạng.
Để chẩn đoán bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay  thì ngoài các triệu chứng lâm sàng còn có thể chụp X-quang khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay. Kỹ thuật chụp X-quang tuy đơn giản nhưng giúp cho bác sĩ khám bệnh chẩn đoán bệnh chính xác hơn. Trên các phim chụp bàn tay, ngón tay bị thoái hóa khớp có thể thấy hiện tượng mọc gai xương, hẹp các khe khớp, mất vôi, hình dải, khuyết xương, xói mòn hoặc khuyết xương hoặc biến dạng khớp…
Nếu có điều kiện cũng nên tiến hành một số xét nghiệm như máu lắng, CRP (C – Reactive Protein), xác định yếu tố dạng thấp RF (Rheumatoid Factor)… Những trường hợp nghi ngờ bị thoái hóa khớp nên được khám bệnh sớm để xác định và điều trị kịp thời, tránh để xảy ra các biến chứng về xương khớp. Vì vậy, sau khi được chẩn đoán là thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay nên tuân thủ các chỉ định điều trị của bác sĩ khám bệnh, nhất là các bác sĩ chuyên khoa xương khớp.
Phòng bệnh như thế nào?
Những đối tượng có nguy cơ cao bị thoái hóa khớp bàn tay, cổ tay (phụ nữ làm việc chân tay nhiều, những người nội trợ…) tránh lao động nặng, nhọc. Khi làm việc với đôi tay của mình, nên có thời gian nhất định để bàn tay được nghỉ ngơi không làm việc liên tục nhiều giờ liền. Trong cuộc sống hàng ngày hoặc trong lao động nếu có máy móc thay thế cho bàn tay, nên tận dụng (ví dụ máy rửa bát đĩa, cối xay thịt…).
Sau mỗi  buổi sáng ngủ dậy nên tập nhẹ nhàng các khớp cổ tay, bàn tay và ngón tay. Nếu có điều kiện nên ngâm bàn tay vào nước muối sinh lý, ấm, mỗi ngày khoảng 2 lần (sáng và tối trước khi đi ngủ), mỗi lần khoảng 10 phút. Tránh hiện tượng tăng cân, ăn uống hợp lý, năng vận động cơ thể. Nếu mắc một số bệnh về chuyển hóa hoặc chấn thương bàn tay, ngón tay nên điều trị dứt điểm và theo chỉ định của bác sĩ.
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -