Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh xương khớp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh xương khớp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Bệnh xương khớp là bệnh của hệ thống vận động, bao gồm cơ, xương, khớp và các tổ chức quanh khớp (đầu xương, bao khớp, màng hoạt dịch, gân cơ và dây chằng). Có hơn 100 bệnh lý khớp, phổ biến nhất là viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis), lãng xương (osteoporosis), gút (gout).


Dinh dưỡng trong bệnh xương khớp





Bệnh xương khớp là một bệnh mãn tính, gây đau đớn, ảnh hưởng đến sức khỏe và giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh, có thể dẫn đến tàn phế, mất khả năng lao động mà điều trị lại rất tốn kém. Các biện pháp điều trị chỉ nhằm đẩy lui những đợt bệnh cấp tính, vì vậy nhiều người bệnh đã tự tìm mọi cách để khống chế, nghe mách bảo lẫn nhau từ thuốc men đến cách ăn uống chọn lựa thực phẩm, thậm chí kiêng khem đến mức bị suy dinh dưỡng nhưng bệnh vẫn cứ ngày càng nặng dần.

Cho đến nay chưa có bằng chứng khoa học chứng minh loại thực phẩm nào có thể điều trị lành bệnh khớp hoặc gây ra bệnh. Ngoại trừ, bệnh gút dễ bị tấn công nếu chế độ ăn chứa quá nhiều chất purin làm tăng lượng acid uric trong máu. Có một số loại thực phẩm có thể gây xuất hiện những đợt viêm khớp cấp trong bệnh viêm khớp dạng thấp và người bệnh cho chúng là nguyên nhân của bệnh, nhưng sự thật với người bệnh khác có thể không xảy ra.

Thực tế chỉ có một chế độ ăn hợp lý mới mang lại lợi ích cho người bệnh, giúp người bệnh đủ khả năng chống lại những đợt bệnh tấn công, đồng thời cũng giúp người bệnh phòng một số bệnh mãn tính khác như: đái tháo đường, cao huyết áp, tăng cholesterol máu... góp phần làm nặng nề thêm bệnh khớp.

Thế nào là ăn uống hợp lý?

Đảm bảo đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể để duy trì mức cân hợp lý. Cân nặng cơ thể gọi là hợp lý khi BMI = 18,5 - 23. Nếu BMI dưới 18,5 là thiếu cân, trên 23 là thừa cân.

Nếu bị thiếu cân, cần tăng thêm năng lượng ăn vào để tăng cân. Ngoài 3 bữa chính nên thêm 2 - 3 bữa phụ, chú ý các món ăn giàu năng lượng như: chiên xào, sữa béo, thêm vào sau bữa chính các món ăn như: trái cây ngọt, bánh ngọt, tàu hủ… Lưu ý: sau những đợt viêm cấp sức khỏe bị ảnh hưởng nhiều, mất các chất dinh dưỡng, ăn uống kém do đau đớn, sốt, rất dễ bị suy dinh dưỡng, cơ thể giảm sức đề kháng. Do đó, càng phải ăn uống nhiều hơn.

Nếu bị thừa cân, cần giảm năng lượng ăn vào để giảm cân. Hạn chế các món ăn béo ngọt, chiên xào, không ăn nhiều vào cữ tối, thay vào đó là các món rau, đậu, trái cây. Tăng thời gian vận động thể lực để tăng tiêu hao năng lượng. Đặc biệt người bệnh thoái hóa khớp, loãng xương, gút hay gặp ở tuổi trung niên, có tình trạng thừa cân béo phì kèm theo làm tăng gánh nặng lên các khớp, gây đau đớn, hạn chế vận động có thể dẫn đến xẹp các đốt sống, mòn khớp, cứng khớp, biến dạng khớp. Ngoài ra, thừa cân béo phì còn là nguy cơ của các bệnh lý mãn tính khác như: tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, ung thư… Do đó, giảm cân sẽ giúp giảm gánh nặng cho khớp và giảm nguy cơ mắc bệnh.
Ăn đủ các chất dinh dưỡng cần thiết:

Ăn nhiều các loại rau quả: mỗi ngày nên ăn hơn 300g rau các loại và hơn 200g trái cây, để cung cấp đủ các vitamin nhóm B, C, E, -caroten, khoáng chất kali, magiê là những chất chống oxy hóa có tác dụng phòng ngừa các bệnh thoái hóa.

Ăn đủ thức ăn giàu đạm: đạm động vật như: thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, nghêu, sò. Đạm thực vật như: tàu hủ, bột đậu nành, các loại đậu đỗ. Mỗi ngày nên ăn trung bình 50g thịt, 50 -100g cá, 100g đậu hủ, 30g đậu đỗ, trứng 3 - 4 quả/tuần. Nếu cholesterol máu cao hoặc có sỏi mật ăn 1 - 2 quả/tuần. Đặc biệt, có nhiều nghiên cứu cho thấy chất béo omega-3 có trong cá có thể giúp giảm viêm khớp.

Sữa: nên uống 2 - 3 ly/ngày. Nếu có thừa cân hoặc cholesterol máu cao thì thay bằng sữa tách béo. Sữa cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, khoáng chất đặc biệt giàu canxi rất cần thiết cho người bệnh xương khớp.

Chất béo: nên ăn vừa phải, chọn các loại dầu thực vật như: dầu mè, dầu nành, dầu phộng... trung bình 20g/ngày. Nếu thừa cân nên giảm thức ăn chiên xào, ăn thịt nạc bỏ da, các món kho luộc hấp. Nếu thiếu cân suy dinh dưỡng, cần tăng thêm chất béo trong thức ăn.

Ăn đủ thức ăn giàu bột: cơm, mì, nui, bắp, khoai, củ… để không bị suy dinh dưỡng hoặc béo phì. Nên ăn gạo lức, thêm khoai củ, bắp để tăng chất xơ và các chất dinh dưỡng khác.

Tránh ăn quá mặn, quá ngọt: lưu ý ở các bệnh nhân tim mạch, đái tháo đường, thận. Một số thuốc điều trị bệnh khớp có tác dụng giữ natri, mất kali hoặc các thuốc tráng dạ dày dùng kèm có tác dụng giữ natri, canxi, magiê.

Tránh dùng rượu và các chất kích thích thần kinh: các chất này thường gây co cứng cơ, giảm tác dụng của thuốc, gây bất lợi trong điều trị.

Ăn uống trong bệnh gút

Bệnh gút là loại bệnh khớp duy nhất mà chế độ ăn đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người bệnh. Nên hạn chế những thức ăn giàu purin, làm tăng acid uric trong máu, đặc biệt trong những đợt bị gút cấp tính. Các thực phẩm dễ làm tăng acid uric trong máu được chia thành 2 nhóm.

Nhóm 1: nhiều purin: gan, cật, óc, lá lách, trứng cá, cá sardine, cá trích, cá hồi, heo, nấm, măng tây, bia, sô-cô-la, cacao...

Nhóm 2: chứa purin trung bình: heo, bò, gà, vịt, hải sản, cua, tôm, đậu đỏ, cải, bó xôi, bông cải.

Nhóm 3: chứa ít purin: ngủ cốc, bơ, dầu mơ, rau quả.

Các thức uống làm tăng acid uric máu: rượu, cà phê, trà, nước uống có coca.

Người bị bệnh gút nên loại bỏ thức ăn nhóm 1, đặc biệt các đợt gút cấp tấn công, hạn chế nhóm 2. Nên ăn thịt nạc, trứng, đậu hủ, sữa giảm béo. Rượu bia 1 - 3 ly/ tuần, nên uống nhiều nước 2 - 3 lít/ngày để tăng thải acid uric theo nước tiểu.

Bệnh xương khớp là một bệnh mãn tính, với những đợt tấn công cấp tính gây đau đớn, điều trị tốn kém nhưng lại hạn chế kết quả điều trị và có khả năng gây tàn phế, giảm chất lượng sống của người bệnh. Muốn điều trị tốt cần phải kết hợp nhiều biện pháp, trong đó ăn uống hợp lý sẽ giúp cho người bệnh đủ sức chống đỡ những cơn cấp tính, phòng ngừa một số bệnh lý mãn tính, đem lại một tinh thần sảng khoái, lạc quan trong cuộc sống.

Bệnh gout thường gây những ảnh hưởng lâu dài kể cả khoảng thời gian giữa các cơn gout cấp. Trong thực tế, acid uric máu tăng cao trong khoảng thời gian giữa các cơn gout cấp cũng gây ra tổn thương khớp. Lắng đọng tinh thể acid uric cũng có thể xảy ra tại các khớp ở tay, chân cũng như tai, khuỷu tay và gân asin. Hậu quả lâu dài là đau khớp mạn tính, tổn thương khớp, gân và đi lại gặp nhiều khó khăn. Gout là một bệnh mãn tính, tiến triển, điều này có nghĩa là bệnh trở nên trầm trọng hơn theo thời gian nếu không điều trị kịp thời.



4 giai đoạn bệnh gout:

Giai đoạn bệnh gout 1: Nồng độ acid uric cao, chưa xuất hiện triệu chứng



Giai đoạn này, nồng độ acid uric cao tuy nhiên chưa xuất hiện các cơn gout cấp. Do đó, bác sỹ thường gọi là “tăng acid uric máu”, chưa phải gout. Đa số mọi người có nồng độ acid uric cao không tiến triển thành bệnh gout. Nhiều bệnh nhân gout có tiền sử tăng acid uric máu trong hơn 20 năm trước khi gặp cơn gout cấp đầu tiên. Hiện nay chưa có kiến nghị nào để làm giảm acid uric máu. Khi có nồng độ acid uric máu cao, bạn cần sự tư vấn của bác sỹ.

Giai đoạn bệnh gout 2: Xuất hiện gout cấp

gd-benh-gut-2

Cơn gout cấp xuất hiện khi nồng độ acid uric máu cao dẫn đến hình thành tinh thể, gây viêm khớp cấp. Cơn gout cấp thường tấn công bất ngờ, vào ban đêm và không có cảnh báo nào. Các triệu chứng là sưng, nóng, đỏ và rất đau, thường gặp ở ngón chân cái. Bệnh nhân gout thường mô tả cơn đau giống như một ngọn đuốc đang cháy, một cái búa khoan, kim đâm hoặc đi chân trần trên than nóng. Và, một điều thật không may, một khi bạn đã xuất hiện cơn gout cấp thì điều đó có nghĩa trong cơn gout cấp khác cũng sẽ xảy ra trong thời gian tới.

Đối với đa số bệnh nhân gout (số liệu thực tế 78 %) xuất hiện cơn gout cấp thứ hai xảy ra trong vòng 6 tháng đến 2 năm sau cơn gout đầu tiên. Sau đó các cơn gout cấp xảy ra nhiều hơn một khớp tại một thời điểm. Dần dần các cơn gout cấp xuất hiện với mức độ thường xuyên hơn, nghiêm trọng hơn, đau kéo dài hơn, thời gian phục hồi lâu hơn so với các cơn gout cấp ban đầu.

Khi bị cơn gout cấp, bạn cần sự tư vấn của bác sỹ hoặc chuyên gia khớp. Bạn có thể dùng các thuốc giảm đau và sưng khớp để cải thiện triệu chứng. Điều quan trọng là hãy nhớ rằng điều trị đau và viêm không giải quyết các nguyên nhân cơ bản của bệnh gout, không làm giảm acid uric.

Để kiểm soát bệnh gout, bệnh nhân gout nên giữ cho nồng độ acid uric của bạn dưới ngưỡng 6 mg / dL. Hãy sử dụng các sản phẩm làm giảm acid uric để duy trì nồng độ acid uric ở mức an toàn.

Giai đoạn bệnh gout 3: Tổn thương khớp giữa các đợt gout cấp

gd-benh-gut-3

Khoảng thời gian giữa các cơn gout cấp, bạn không phải trải qua sự đau đớn. Điều quan trọng là bạn phải nhớ rằng: ngay cả khi không phải gout cấp thì bạn vẫn bị gout. Trong thực tế, nghiên cứu cho thấy rằng khi acid uric máu cao, các tinh thể acid uric (tinh thể gây ra các cơn đau cấp) vẫn hiện diện trong các khớp. Vì vậy, ngay cả khi không xuất hiện cơn đau, tinh thể acid uric vẫn tiếp tục gây tổn thương khớp.

Để kiểm soát bệnh gout, hiện nay các khuyến cáo đưa ra: nồng độ acid uric máu nên duy trì dưới 6 mg / dL. Giảm nồng độ acid uric máu, có nghĩa làm giảm các nguy cơ của gout trong thời gian tới. Hãy điều trị giảm acid uric máu ngay khi xuất hiện cơn gout đầu tiên.

Giai đoạn bệnh gout 4: Bệnh gout mãn tính

gd-benh-gut-4

Giai đoạn cuối của bệnh gout được gọi là gout tophi mãn tính. Theo thời gian, khoảng thời gian giữa các cơn gout cấp ngắn và biến mất, sau đó viêm khớp liên tục, biến dạng khớp, và lắng đọng các tinh thể acid uric tạo thành các hạt tophi. Tophi có thể gây đau mãn tính và kéo dài, phá hủy khớp, các mô xung quanh tổn thương, và cũng có thể dẫn đến dị tật. Và cơn gout cấp cũng xuất hiện ngay cả thời điểm này.

Kiểm soát bệnh gout

Trên đây chúng tôi đã giới thiệu 4 giai đoạn tiến triển của bệnh gout. Hi vọng bài viết sẽ giúp bạn hiểu hơn về bệnh gout. Nhiều bệnh nhân gout nhầm tưởng rằng, bệnh gout của họ nhẹ nên chỉ xảy ra trong vài ngày và tự khỏi hoặc chỉ cần sử dụng thuốc giảm đau đơn thuần. Đây thật sự là một sai lầm. Hãy điều trị giảm acid uric máu càng sớm càng tốt. Bạn nên duy trì nồng độ acid uric của bạn dưới ngưỡng 6 mg / dL và định kỳ kiểm tra chỉ số acid uric máu 2-3 tháng/lần.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Bệnh gout và bệnh giả gout là bệnh lý do ứ đọng tinh thể muối tại khớp và mô liên kết. Biểu hiện lâm sàng của bệnh gout và bệnh giả gout rất giống nhau với hội chứng viêm một hoặc nhiều khớp cấp tính, tái diễn và một số biến chứng ở cơ quan khác. Tuy nhiên Bệnh gout và bệnh giả gout có nguyên nhân và điều trị hoàn toàn khác nhau.




Phân biệt bệnh gút giả và bệnh gút thật

Tinh thể gây viêm khớp

Bệnh gout là căn bệnh do rối loạn chuyển hóa chất purin, làm tăng cao lượng acid uric trong máu, gây lắng đọng thành tinh thể urat, hình kim tại khớp và các mô mềm.

Bệnh giả gout hay còn gọi là bệnh vôi hóa do lắng đọng tinh thể muối calcium pyrophosphate dihydrate tại các khớp. Khác với bệnh gout là tinh thể hình kim, bệnh giả gout với tinh thể muối calcium có hình thoi như hình sau:

Do đó để chuẩn đoán chính xác bệnh gout, bệnh nhân nên làm xét nghiệm acid uric trong máu và soi kính hiển vi tinh thể gây viêm khớp.

Nguyên nhân gây bệnh gút

Bệnh Gout là do rối loạn về chuyển hóa liên quan đến việc tăng sản xuất hoặc giảm đào thải chất acid uric trong cơ thể. Người ăn nhiều đạm, uống nhiều rượu bia, rối loạn chuyển hóa purin, chức năng thận suy giảm … đều gây tăng acid uric trong máu và bệnh gout.

Bệnh Giả Gout là do lắng đọng muối canxi tại khớp. Bệnh thường phối hợp với một bệnh khác như: nhiễm sắc tố sắt, cường cận giáp trạng, nhiễm sắc tố ochronose, đái tháo đường, thiểu năng giáp trạng, bệnh Wilson …Bệnh nhân giả gout không cần chế độ ăn nghiêm ngặt như bệnh nhân gout.

Dấu hiệu nhận biết bệnh gout

Bệnh gout và bệnh giả gout đều gây cơn viêm khớp cấp tính và gây đau dữ dội. Tuy nhiên hai bệnh cũng có những dấu hiệu lâm sàng khác nhau.

Bệnh gout thường khởi phát ở các ngón khớp cái (75% các trường hợp). Ngoài ra, cũng có biểu hiện ở mu bàn chân, cổ gân, gót chân, đầu gối, cẳng tay và khuỷu tay. Bệnh gout thường gặp ở nam giới độ tuổi 30 – 40 tuổi. Phụ nữ bị gout thường sau tuổi tiền mãn kinh.

Bệnh giả gout thường khởi phát khớp gối và khớp lớn, rất hiếm gặp khớp ngón tay, ngón chân. gây viêm khớp gối. Bệnh gặp đồng thời ở nam giới và nữ giới, người trên 65 tuổi. Tuổi càng cao, nguy cơ mắc bệnh tăng.

Mức độ đau và viêm ở bệnh Gout and và giả gout cũng khác nhau . Cơn gout cấp thường tấn công về đêm, đột ngột và sưng đau dữ dội trong khoảng 12-24 giờ. Trong khi bệnh giả gout thường gây đau từ từ trong nhiều ngày hơn và mức độ trầm trọng cũng ít hơn so với cơn gout cấp.

Bệnh gout gây lắng đọng acid uric dưới da và hình thành các hạt tophi, trong khi bệnh giả gout không tạo hạt tophi.

Điều trị bệnh gút

Điều trị giảm đau trong cơn gout cấp tính thường dùng colchicine và các thuốc giảm đau NSAID.

Colchicine đáp ứng tốt với bệnh nhân gout và thường giảm đau nhanh. Trong khi đó bệnh giả gout thường đáp ứng kém hơn với colchicine và thường được điều trị bằng thuốc giảm đau NSAID và corticoid.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

Đái tháo đường có nhiều biến chứng trong đó có biến chứng ở hệ xương khớp. Đây là một trong những biến chứng gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh do những tác hại của nó đến khả năng lao động, nhu cầu sinh hoạt, cũng như về thẩm mỹ, tinh thần… Tuy nhiên, hiện nay nhiều bệnh nhân chưa thực sự được quan tâm đúng mức.


Bệnh biến chứng xương khớp tiến triển âm thầm

Bệnh đái tháo đường góp phần thúc đẩy bệnh ở hệ xương khớp xuất hiện sớm hơn, nặng hơn hoặc tiến triển nhanh hơn. Bệnh thường tiến triển âm thầm, lúc đầu người bệnh chỉ có cảm giác khó khăn khi co duỗi ngón tay cho đến khi ngón tay hoàn toàn cong gập và đau buốt. Tổn thương gây xơ hóa và co rút cũng có thể xảy ra ở bàn chân và thể hang bộ phận sinh dục nam. Mặt khác mật độ xương của bệnh nhân đái tháo đường thường thấp hơn người bình thường từ 20% – 30%. Do vậy, các bệnh lý về khớp cũng khiến cho bệnh nhân đau đớn và dễ gãy nếu chăm sóc không tốt.



Hội chứng bàn tay cứng hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường.

Biến chứng ở gân cơ

- Hội chứng ống cổ tay, ống cổ chân: Người bệnh có triệu chứng tê rần ở bàn tay hoặc bàn chân. Cảm giác tê càng tăng lên khi bệnh nhân đứng trong một số tư thế như: buông thõng tay (hay chân), gập vùng cổ tay, cổ chân trong nhiều giờ liền. Đau tăng lên khi bệnh nhân phải gấp duỗi cổ tay như cầm sách, báo, đánh máy chữ, lái xe, sử dụng dao, đũa… Ở một số trường hợp khiến cho bệnh nhân mất ngủ, bồn chồn, mệt mỏi, suy nhược. Hội chứng này gặp trong 20% bệnh nhân mắc đái tháo đường.

- Hội chứng bàn tay cứng, hay hội chứng hạn chế vận động khớp với biểu hiện da tay bị dày lên, xơ cứng gần giống như bệnh xơ cứng bì. Hạn chế vận động khớp biểu hiện bằng các ngón tay không thể gấp và duỗi hết tầm vận động bình thường, xơ hóa các bao gân duỗi và gấp ngón tay. Ở mức độ nặng hơn, bệnh nhân không thể áp sát 2 lòng bàn tay vào nhau. Hội chứng này gặp khoảng 1/3 bệnh nhân đái tháo đường týp 1.

- Hội chứng Duputren là do tình trạng xơ hóa, co rút, dày lên của cân cơ gan bàn tay với biểu hiện bằng sự co rút của ngón tay, thường gặp ở ngón đeo nhẫn nhưng có khi lan rộng sang tận ngón trỏ. Hội chứng này thường gặp ở 25% bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường.

- Hội chứng ngón tay lò xo do viêm bao gân gấp ngón tay là một biến chứng khá thường gặp. Bệnh nhân có cảm giác ngón tay như bị khóa cứng lại không thể duỗi ra bình thường được mà phải cố gắng bật mạnh ra, hoặc lấy ngón tay khác bẻ ra. Ngón tay bị co gấp như hình cò súng.

Biến chứng ở khớp và tổ chức quanh khớp

Bệnh nhân đái tháo đường cũng thường bị viêm đau các khớp, thường gặp nhất là khớp vai và bao quanh khớp vai. Trong đó có hội chứng khớp vai đông cứng hay co rút khớp vai với biểu hiện gần như hoàn toàn sự vận động của khớp vai, nhất là các động tác dạng và xoay vai. Người bệnh sẽ có triệu chứng đau nhẹ và không tương xứng khiến cho bệnh nhân hạn chế vận động. Đây là hội chứng thường gặp khoảng 20% bệnh nhân đái tháo đường. Tiếp theo là hội chứng vai tay hay hội chứng đau loạn dưỡng thần kinh phản xạ (hội chứng Sudeck) có thể gặp và thường phối hợp với hội chứng đông cứng khớp vai. Người bệnh đau lan tỏa từ trên vai lan xuống đến bàn, ngón tay, đau rất nhiều kèm theo rối loạn vận mạch (tay sưng phù, da đỏ, tím…) và thiểu dưỡng cơ, teo cơ nếu ở giai đoạn muộn. Ngoài ra, viêm điểm bám gân vôi hóa cũng hay gặp, tỷ lệ bệnh gấp 3 lần người bình thường không mắc đái tháo đường với biểu hiện bằng đau vai rất đột ngột, dữ dội, hạn chế vận động khớp nhiều.

Về phòng bệnh biến chứng xương khớp

Do đái tháo đường là căn bệnh mạn tính, không thể điều trị khỏi hoàn toàn nên người bệnh phải sống chung. Muốn giảm thiểu biến chứng, người bệnh phải tuân thủ quá trình điều trị phù hợp với điều kiện của bản thân. Theo dõi và kiểm soát đường huyết ở ngưỡng tối ưu nhất thông qua chế độ ăn uống cân bằng và khoa học.

Bệnh nhân cần duy trì cuộc sống vận động, tập luyện để kiểm soát đường huyết và cân nặng hợp lý nhất.

Thường xuyên kiểm tra sức khỏe để tầm soát bệnh và phát hiện sớm những biến chứng sớm nhất. Khi có các triệu chứng như sưng, đau, mất cảm giác hay tê bì, thay đổi màu da bất thường, có vết thương bàn chân, giảm hoặc mất khả năng cử động một chi cần đến bác sĩ để có hướng điều trị thích hợp.
Cần từ bỏ các thói quen có hại trong ăn uống, sinh hoạt, lối sống như: ăn đồ ngọt, làm quá sức hoặc quá lười, vệ sinh kém, uống rượu, hút thuốc…

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Bệnh lý cột sống-cơ-xương-khớp là diện bệnh rất phổ biến ở nước ta do điều kiện khí hậu nóng ẩm, điều kiện kinh tế xã hội cũng như thói quen ăn uống các đồ béo ngọt. Nhóm bệnh lý cơ xương khớp-cột sống chiếm tỷ lệ khá cao ở Việt Nam, trong nhân dân, ở mọi lứa tuổi, mọi địa phương. Nhóm bệnh lý này tuy ít gây tử vong song nó để lại di chứng nặng nề cho người bệnh, làm giảm khả năng sinh hoạt và lao động của họ, ảnh hưởng tới đời sống thu nhập cá nhân họ và lợi ích chung của kinh tế xã hội.




Đơn vị điều trị các bệnh lý cơ xương khớp – cột sống bằng phương pháp vật lý trị liệu hiện đại kết hợp với những ưu điểm của Y học cổ truyền trong khám chẩn đoán điều trị bệnh lý cơ xương khớp cột sống của khoa Khám khám chữa bệnh tự nguyện chất lượng cao của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương đã giải quyết được những khó khăn trong điều trị và phòng chống các di chứng của bệnh lý thường gặp sau:

1. Điều trị các bệnh lý thoái hóa khớp, thoái hóa cột sống, cứng khớp, viêm khớp dạng thấp (giai đoạn ổn định).


2. Điều trị các bệnh lý thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, cột sống thắt lưng (tránh phải phẫu thuật).


3. Điều trị các bệnh lý thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn thần kinh thực vật (đau đầu, mất ngủ, hoa mắt, chóng mặt …)


4. Điều trị liệt mặt do tổn thương dây thần kinh số VII.


5. Điều trị phục hồi các di chứng liệt trong tai biến mạch não.


6. Điều trị các bệnh lý viêm cơ, viêm khớp, viêm bao khớp,viêm thần kinh ngoại biên…


7. Điều trị các tổn thương phần mềm và khớp do chấn thương: sai khớp, bong gân, bầm tím.


8. Điều trị một số rối loạn tuần hoàn cục bộ: thiếu máu cục bộ, co mạch ngoại vi…


9. Điều trị chắp lẹo mắt.


10. Điều trị hội chứng vai gáy; đau lưng, đau vai gáy do lạnh; đau thần kinh tọa…


11. Tư vấn các vấn đề có liên quan đến bệnh cơ xương khớp – cột sống…

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Theo các bác sĩ của phòng khám đa khoa Năm Châu chúng tôi cho biết: cho đến nay, mục tiêu của điều trị trong viêm khớp dạng thấp là để giảm viêm và đau khớp, tối đa hóa chức năng khớp, ngăn chặn và phá hủy khớp và biến dạng. Can thiệp sớm của y tế đã được chứng minh là quan trọng trong việc cải thiện kết quả điều trị viêm khóp dạng thấp.


Điều trị viêm khớp dạng thấp tối ưu cho các bệnh liên quan đến một sự kết hợp của các loại thuốc, nghỉ ngơi, tăng cường sức khỏe, phối hợp điều trị giữa bác sĩ, bệnh nhân và gia đình. Điều trị viêm khớp dạng thấp tùy theo nhiều yếu tố như hoạt động bệnh, các loại khớp liên quan, sức khỏe nói chung, tuổi tác, nghề nghiệp và bệnh nhân. Điều trị viêm khớp dạng thấp thành công nhất khi có sự hợp tác chặt chẽ giữa các bác sĩ, bệnh nhân, và các thành viên gia đình.




Hai loại thuốc được sử dụng trong điều trị viêm khớp dạng thấp: fast-acting và slow-acting (còn được gọi là bệnh thay đổi thuốc antirheumatic hoặc DMARD). Các thuốc hàng đầu, chẳng hạn như aspirin và cortisone (corticoid), được sử dụng để giảm đau và viêm. Các dòng thuốc thứ hai dòng hoạt động chậm, chẳng hạn như methotrexate (Rheumatrex, Trexall), và hydroxychloroquine (Plaquenil), thúc đẩy thuyên giảm bệnh và ngăn chặn tiến bộ phá hủy khớp.
  
Mức độ phá hoại của viêm khớp dạng thấp khác nhau giữa các cá nhân bị ảnh hưởng. Những người có bất thường, hình thức ít tiêu cực của bệnh tật hoặc bệnh đã lắng xuống sau nhiều năm hoạt động (“đốt cháy” viêm khớp dạng thấp) có thể được quản lý với phần còn lại cộng với giảm đau và thuốc chống viêm một mình. Nhìn chung, chức năng được cải thiện và việc phá hủy khớp được giảm thiểu khi điều kiện được điều trị sớm bằng dòng thuốc hàng thứ hai (bệnh sửa đổi antirheumatic thuốc), thậm chí vài tháng sau chẩn đoán. Hầu hết mọi người cần thuốc dòng thứ hai tích cực hơn, chẳng hạn như methotrexate, ngoài các thuốc chống viêm. Đôi khi các loại thuốc dòng thứ hai đường dây sử dụng kết hợp. Trong một số trường hợp có biến dạng khớp nặng, phẫu thuật có thể cần thiết.
  
Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Các nghiên cứu đã ghi nhận, mưa nắng thất thường, độ ẩm cao kết hợp với áp suất khí quyển thấp làm gia tăng những cơn đau và gây sưng khớp. Bên cạnh đó, nhiệt độ thay đổi làm tăng sự đơ cứng của khớp.




Chứng cứ thực nghiệm

Theo các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu cho thấy có mối liên hệ trực tiếp giữa áp suất thấp, nhiệt độ thấp và đau khớp. Các nhà khoa học gây viêm mạn tính lên chân của chuột tương tự như đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân viêm khớp. Khi chúng được đặt trong môi trường áp suất thấp và nhiệt độ thấp, những biểu hiện của triệu chứng đau khớp chân trở nên rõ rệt, trong khi điều đó không được ghi nhận trong nhóm đối chứng.


Theo các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu phát hiện ra rằng, khi áp lực không khí thay đổi, áp lực trong các khớp xương cũng thay đổi theo. Trong một nghiên cứu khác, người ta so sánh các bệnh nhân bị thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp với nhóm khỏe mạnh. Kết quả là các bệnh nhân thoái hóa khớp cảm thấy cơn đau ở khớp tăng lên khi áp suất không khí giảm xuống, trong khi ở nhóm viêm khớp dạng thấp chịu ảnh hưởng trước nhiệt độ thấp.

Thoái hóa sụn khớp - gốc rễ của cơn đau

Theo các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu, những người bị đau khớp thường cảm nhận được sự thay đổi thời tiết trước khi nó xảy ra vì họ có lớp sụn đệm tại khớp ít hơn bình thường. Sụn khớp mỏng đi và hư tổn do có sự mất cân bằng giữa tái tạo và hủy hoại của sụn, hoặc cũng có thể do chấn thương gây viêm... Điều này dẫn tới những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch gây nên phản ứng viêm thứ phát.

Khi sụn khớp bị phá vỡ, gân và dây chằng căng ra, xương chà xát với nhau gây nên những cơn đau nhức và giảm chức năng vận động. Thêm vào đó, các sợi collagen type II trong sụn khớp trở nên mảnh, nhỏ hơn, lỏng lẻo và xoắn vặn gây thoái hóa chất nền sụn khớp.

Các triệu chứng đau nhức xảy ra từng đợt nhưng nếu không được chẩn đoán và điều trị, về lâu dài sẽ gây đau đớn, ảnh hưởng trực tiếp đến lao động và sinh hoạt hàng ngày. Ở trường hợp thoái hóa khớp nặng, các đầu xương lồi ra chạm vào nhau, có khi chèn ép dây thần kinh và có thể gặp nguy cơ tàn phế suốt đời. Đến nay, thoái hóa khớp vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế cho con người.

Bảo vệ sụn khớp trước thời tiết

Để phòng ngừa khớp thoái hóa, cần chăm sóc sụn khớp trước khi quá muộn. Theo đó, ngay khi còn trẻ nên tập thể dục đều đặn, tránh bị dư cân, tránh những động tác quá mạnh, uống nhiều nước, giảm muối, đường, mỡ… Không nên vội vã dùng thuốc giảm đau tức thời, bởi thuốc giảm đau chỉ chữa phần ngọn và để lại những tác dụng phụ không mong muốn trên gan, thận, tim, dạ dày...

Đồng thời, con người cần tiếp sức cho cơ thể bằng cách bổ sung các dưỡng chất sinh học  với tác dụng nuôi dưỡng sụn, tái tạo những hư hỏng trong ổ sụn, từ đó cải thiện chức năng khớp.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Vẹo cột sống là trình trạng cong của cột sống sang phía bên của trục cơ thể và vẹo xoay của các thân đốt sống theo trục của mặt phẳng ngang.
 



1.2.Phân loại : Chia làm hai loại

-Vẹo không cấu trúc là vẹo với cột sống không biến dạng

-Vẹo cấu trúc là với cột sống biến dạng

1.2.1.Vẹo không cấu trúc

a. Vẹo tư thế

Vẹo cột sống khi đứng thẳng, lúc xách nhưng khi bảo bệnh nhân nghiêng về phía vẹo thì hết vẹo.

b.Vẹo bù trừ

Gặp trong những bệnh nhân bị chân dài chân ngắn. Nếu chêm chân ngắn ngang chân dài thì hết vẹo.

c. Vẹo do thoát vị đĩa đệm.

Thường gặp người lớn do đĩa đệm thoát vị chèn vào rể thần hông gây đau để làm giảm đau bệnh nhân nghiêng về phía đau . Khi hết đau thì bệnh nhân hết vẹo.

d. Vẹo do viêm

Viêm cơ thắt lưng, một số viêm cạnh cột sống hay bị chấn thương vùng cạnh cột sống sẽ làm cho bệnh nhân nghiêng về phía đau tạo ra vẹo cột sống.

1.2.2.Vẹo cấu trúc

-Trong nhóm vẹo cấu trúc, đốt sống bị biến dạng ở đường cong.

Vẹo xuất hiện trước tuổi xương lớn, kèm theo xoay trong hầu hết các trường hợp và bao gồm 4 loại:

-Vẹo tự phát

-Vẹo do liệt

-Vẹo bẩm sinh

-Vẹo trong một số bệnh: Bệnh u xơ thần kinh, bệnh rổng tuỷ sống, Thoát vị tuỷ màng tuỷ, bệnh lao xương.

1.3.Tỷ lệ mắc

Theo một số công trình ngiên cứu của các tác giả nước ngoài như: JOHNE LOSTENIN, JUSTUSF LEHMANN, ARNALD J CAPUTE… thì tỷ lệ người mắc bệnh cong vẹo cột sống tương đối cao 3-4% trong đó 2% cần điều trị.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Bệnh sưng khớp gối có phải thoái hóa khớp gối? Thoái hoá khớp gối tức là tình trạng sụn mặt khớp bị hư. Đây là bệnh lý có liên quan đến tuổi và hay xảy ra khi chúng ta bước vào tuổi 40-50. Tổn thương của loại bệnh này biểu hiện từ tình trạng nhuyễn sụn tức là mặt sụn khớp của khớp gối bị mềm, tiếp đến lớp sụn này sẽ bị hư tạo các đường nứt và lan sâu xuống tận vùng xương. Nặng hơn nữa là các mảng sụn bị bong tróc ra để lộ lớp xương dưới sụn, bao hoạt mạc khớp gối sẽ bị viêm và tiết ra nhiều loại men làm hư thêm lớp sụn này. Cơ thể phản ứng bằng cách tạo xương sữa chữa nhưng không thành công và tạo ra các hình ảnh gai xương trong khớp gối khi chụp phim xquang. Biểu hiện của bệnh là tình trạng đau khớp gối và đặc biệt là đau khe khớp gối bên trong vì phần lớn khớp gối của chúng ta bị vẹo vào trong ( gối varus). Đau tăng khi đi lại nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Chụp phim với tư thế đứng trên 1 chân bị đau sẽ thấy hình ảnh xơ đặc xương vùng khe khớp bên trong, nặng hơn có thể thấy hẹp khe khớp và các gai xương.





Tiến triển lâu dài khớp gối sẽ bị hư hoàn toàn và biến dạng vẹo vào trong gây đau đớn khi đi lại, sụn hư hoàn toàn gây tàn phế.


Về tây y sẽ điều trị bằng việc dùng thuốc kháng viêm giảm đau và chế độ tập luyện thích hợp. Việc điều trị bằng thuốc nếu không hiệu quả sẽ phải sử dụng đến biện pháp mổ xẻ, hiện tại có nhiều cách như làm nội soi cắt hoặc mạc và làm sạch sụn hư bằng sóng radio cao tần, khoan xương cho chảy máu với hy vọng sụn sẽ mọc ra. Ghép xương sụn tự thân qua nội soi tức là lấy sụn lành từ nơi không phải chịu lực ghép vào nơi hư cho những người còn trẻ. Đục xương sửa trục khớp gối cho thẳng trở lại hoặc hơi vẹo ra ngoài 1 chút vì phần sụn bên ngoài thường còn tốt. Và biện pháp cuối cùng khi sụn hư hoàn toàn là thay khớp gối nhân tạo toàn phần hoặc bán phần. Hiện tại một số bệnh viện đã có triển khai hầu hết các loại phẫu thuật kể trên. Chúng tôi đã triển khai hết tất cả các kỹ thuật điều trị phẫu thuật cho thoái hóa gối như nội soi cắt lọc, ghép sụn, bơm huyết tương giàu tiểu cầu, thay khớp gối.. 


Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thoái hóa cột sống thắt lưng là bệnh mạn tính tiến triển từ từ tăng dần gây đau, hạn chế vận động, biến dạng cột sống thắt lưng mà không có biểu hiện viêm. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa sụn khớp và đĩa đệm cột sống phối hợp với những thay đổi ở phần xương dưới sụn, và màng hoạt dịch.




Bị đau đốt sống lưng là hậu quả của nhiều yếu tố: tuổi cao; nữ; nghề nghiệp lao động nặng; một số yếu tố khác như: tiền sử chấn thương cột sống, bất thường trục chi dưới, tiền sử phẫu thuật cột sống, yếu cơ, di truyền, tư thế lao động...

Điều trị

1.1. Nguyên tắc

* Điều trị theo triệu chứng (thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ...) kết hợp với các thuốc chống thoái hóa tác dụng chậm.
* Nên phối hợp các biện pháp điều trị nội khoa, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng. Trường hợp có chèn ép rễ có thể chỉ định ngoại khoa.

1.2. Điều trị cụ thể

 Vật lý trị liệu
Bài tập thể dục, xoa bóp, kéo nắn, chiếu hồng ngoại, chườm nóng, liệu pháp suối khoáng, bùn nóng, paraphin, tập cơ dựng lưng...
Điều trị nội khoa
* Thuốc giảm đau theo bậc thang giảm đau của WHO
+ Bậc 1 - Paracetamol (Paracetamol, Tylenol 8h...) 500mg/ngày uống 4 đến 6 lần, không quá 4gram/ngày. Thuốc có thể gây hại cho gan.
+ Bậc 2 - Paracetamol kết hợp với codein, với codein hoặc tramadol: Efferalgan -codein 2-4 viên/24h; Ultracet 2-4 viên/24h.
+ Bậc 3 - Opiat và dẫn xuất của opiat
* Thuốc chống viêm không steroid
Chọn một trong các thuốc sau. Lưu ý tuyệt đối không phối hợp thuốc trong nhóm vì không tăng tác dụng điều trị mà lại có nhiều tác dụng không mong muốn).
+ Diclofenac (Votaren) viên 50mg: 2 viên/ngày chia 2 hoặc viên 75mg, uống 1 viên/ngày sau ăn no. Có thể sử dụng dạng ống tiêm bắp 75 mg/ngày trong 2-3 ngày đầu khi bệnh nhân đau nhiều, sau đó chuyển sang đường uống.
+ Meloxicam (Mobic) viên 7,5mg:2 viên/ngày sau ăn no hoặc dạng ống tiêm bắp 15mg/ngày x 2 -3 ngày nếu bệnh nhân đau nhiều, sau đó chuyển sang đường uống.
+ Piroxicam (Felden) viên hay ống 20mg, uống 1 viên/ngày uống sau ăn no hoặc tiêm bắp ngày 1 ống trong 2-3 ngày khi bệnh nhân đau nhiều, sau đó chuyển sang đường uống.
+ Celecoxib (Celebrex) viên 200mg liều 1 đến 2 viên/ngày sau ăn no. Không nên dùng cho bệnh nhân có bệnh tim mạch và thận trọng ở người cao tuổi.
+ Thuốc chống viêm bôi ngoài da: voitaren emugel, profenid gel.
* Thuốc giãn cơ: Eperisone (myonal 50mg): 3 viên/ngày, hoặc Tolperisone (mydocalm 50mg): 2-6 viên/ngày.
* Thuốc điều trị triệu chứng tác dụng chậm
+ Glucosamine sulfate và chondroitin sulphat (Viartril-s 1500mg/ngày), dùng kéo dài.
+ Thuốc ức chế IL1: Diacerhein (artrodar 50mg) 1-2 viên/ngày.
* Tiêm corticoid tại chỗ: tiêm ngoài màng cứng bằng hydrocortison acetat trong trường hợp đau thần kinh tọa, tiêm cạnh cột sống, tiêm khớp liên mấu (dưới màn tăng sáng hoặc hướng dẫn của CT).
 Điều trị ngoại khoa
Chỉ định khi thoát vị đĩa đệm, trượt đót sống gây đau thần kinh tọa kéo dài, hoặc có hẹp ống sống với các dấu hiệu thần kinh tiến triển nặng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống mà các biện pháp điều trị nội khoa không kết quả.

2. Theo dõi và quản lý

* Theo dõi và phát hiện sớm các dị tật cột sống để điều trị kịp thời.
* Giáo dục tư vấn các bài tập tốt cho cột sống, sửa chữa các tư thế xấu.
* Định hướng nghề nghiệp thích hợp với tình trạng bệnh, kiểm tra định kỳ những người lao động nặng (khám phát hiện triệu chứng, chụp Xquang cột sống khi cần...)
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -