Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh năm 2013. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh năm 2013. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Thoái hóa khớp là nguyên nhân hàng đầu gây ra chứng đau khớp ở người trưởng thành. Từ chuyên môn gọi là viêm xương khớp (osteoarthritis). Trước đây người ta xem nó là căn bệnh của người cao tuổi. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy có rất nhiều người dưới 40 tuổi cũng bị thoái hóa khớp.



1. Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp
2. Siêng vận động
3. Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng
4. Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng
5. Giữ nhịp sống thoải mái
6. Phải biết "lắng nghe" cơ thể
7. Thay đổi tư thế thường xuyên
8. Sự luyện tập "như một chiến binh" sẽ làm hại bạn
9. Bảo vệ cơ thể trước những bất trắc trong sinh hoạt
10. Ðừng ngại ngần khi có yêu cầu trợ giúp
Thường gặp nhất là do chấn thương và khớp làm việc quá tải. Ngoài ra còn một nguyên nhân trước đây ít gặp nhưng nay khá phổ biến là bệnh béo phì. Hiếm gặp hơn là các nguyên nhân về di truyền (gen) hay khiếm khuyết bẩm sinh về xương khớp.
Ðiểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được. Sau đây là 10 biện pháp được các nhà chuyên môn đề nghị:
Khi bạn càng béo, sức nặng đè lên khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối và bàn chân.
Luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Ðó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương trong vận động.
Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa, vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.
Khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay là khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân.
Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.
Cơ thể chúng ta có cơ chế báo động rất tuyệt vời. Khi có vấn đề nó sẽ báo động ngay cho bạn. Trong đó đau là dấu hiệu báo động chủ yếu. Phải ngưng ngay lập tức các vận động nếu chúng gây đau.
Nên thường xuyên thay đổi các tư thế sinh hoạt. Tránh nằm lâu, ngồi lâu, đứng lâu một chỗ vì sẽ làm ứ trệ tuần hoàn và gây cứng khớp. Có thể đây là yếu tố chính yếu gây ra thoái hóa khớp do nghề nghiệp, nhất là ở những người lao động trí óc.
Khi khớp của bạn có vấn đề, lời khuyên nên vận động của bác sĩ có thể được bạn hăng hái thực hiện một cách quá mức. Nguyên nhân thường là nỗi lo sợ thầm kín báo hiệu tuổi già của những người thành đạt trong cuộc sống, là sự âu lo nếu bạn là trụ cột của gia đình. Những lý do này khiến bạn vội vã lao vào tập luyện như những người lính cứu hỏa dập tắt đám cháy. Tuy nhiên điều này không thể áp dụng cho tổn thương khớp. Do sụn khớp phải trải qua một thời gian dài tác động mới bị hư hỏng (thoái hóa), vì vậy khi bạn cảm thấy đau nghĩa là nó đã hư khá nặng. Sự nghỉ ngơi sẽ làm ngừng gia tăng mức độ tổn thương. Còn sự vận động sẽ giúp nó phục hồi nhưng cần phải tăng dần cường độ. Nếu bạn quá gắng sức hay nóng nảy trong luyện tập để đốt giai đoạn, thì vô tình sẽ làm chết lớp sụn mới còn non yếu do các lực tác động quá mức của chính mình. Nên bắt đầu bằng những động tác nhẹ nhàng và chậm rãi, sau đó mới tăng dần lên tùy vào sự phản ứng của cơ thể.
Khi ra khỏi nhà, bạn nên cẩn thận chuẩn bị những dụng cụ bảo vệ cổ tay và khớp gối, nhằm đề phòng những tình huống bất ngờ có thể làm bạn bị chấn thương.
Bạn không nên cố gắng làm một việc gì đó quá sức của mình. Nếu cảm thấy khó khăn, nên nhờ người khác trợ giúp. Mang vác hay xách một vật nặng có thể làm bạn đau nhức kéo dài nhiều ngày. Tình trạng đau nhức này thể hiện sự tổn thương của cơ thể. Từ những lỗ nhỏ có thể phát triển thành những sang thương lớn hơn trên mặt sụn khớp.

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013


Gai cột sống là sự phát triển thêm ra của xương trên thân đốt sống, đĩa sụn hay dây chằng quanh khớp. Nguy cơ mắc bệnh này tăng theo độ tuổi và nam bị nhiều hơn nữ.


1. Nguyên nhân chính dẫn đến gai cột sống

1.1. Viêm khớp cột sống mãn tính
Quá trình viêm ảnh hưởng đến phần sụn đốt sống, lâu ngày phần sụn này bị hao mòn dần, khiến bề mặt trơn láng của nó trở nên thô ráp, xù xì và cuối cùng hai bề mặt xương tiếp xúc, cọ sát lên nhau. Đến lúc này, cơ thể sẽ có một quá trình tự điều chỉnh để khắc phục hiện tượng trên, nhưng kết quả của quá trình chỉnh sửa lại là sự hình thành gai xương. Do đó, có thể nói gai xương là một đáp ứng tự nhiên của cơ thể đối với phản ứng viêm.
1.2. Sự lắng đọng canxi ở các dây chằng, gân tiếp xúc với đốt sống
Trường hợp này thường gặp trong thoái hóa cột sống ở người lớn tuổi; đó là sự lắng đọng canxi dưới dạng calcipyrophosphat. Thoái hóa cột sống là một rối loạn có thể dẫn đến mất cấu trúc và chức năng bình thường của cột sống. Sự thoái hóa có thể xảy ra ở một trong các thành phần cấu tạo của cột sống: xương đốt sống, đĩa sụn, các dây chằng bám quanh khớp. Quá trình thoái hóa làm mất nước (chiếm 80% trong sụn) và biến đổi một số chất, làm sụn khớp dễ bị canxi hóa.
1.3. Chấn thương
Chấn thương làm hư hại xương hoặc khớp ở cột sống, và phản ứng của cơ thể để sửa chữa nơi bị tổn thương sẽ dẫn đến sự hình thành gai cột sống. Trong trường hợp này, gai cũng có thể hình thành từ sự lắng đọng canxi ở dây chằng đã dày lên do phản ứng viêm.

2. Dấu hiệu

Đa số bệnh gai cột sống không gây ra dấu hiệu triệu chứng gì.
Tuy nhiên khi gai cọ xát với xương khác hoặc các phần mềm ở xung quanh như dây chằng, rễ dây thần kinh thì bệnh nhân mới thấy đau.
Đau thường xuất hiện ở cổ, thắt lưng, đặc biệt là khi bệnh nhân đứng hoặc đi.
Đau lan xuống vai với nhức đầu khi gai ở cột sống cổ, lan xuống lưng, chân khi gai ở cột sống lưng.
Cơn đau tăng khi cử động, giảm khi nghỉ do đó sẽ đưa tới giới hạn cử động ở các phần này.
Khi dây thần kinh bị chèn ép, bệnh nhân cảm thấy đau ở tay và chân, cơ bắp yếu. Nếu ống tủy bị quá thu hẹp, bệnh nhân sẽ có rối loạn đại tiểu tiện, mất cảm giác.
Ngoài gai cột sống, các dấu hiệu vừa kể cũng thấy trong bệnh tiểu đường, rối loạn tuần hoàn ở tứ chi, u, viêm hoặc nhiễm trùng cột sống. Một số dấu hiệu của gai cột sống cũng tương tự như ở các bệnh viêm thấp khớp, chấn thương lưng, đứt đĩa liên sống.
Cần phân biệt Gai cột sống với Thoái hóa cột sống, đau thần kinh tọa, thoát vị đĩa đệm. Sự phân biệt căn cứ vào dấu hiệu và y sử của mỗi trường hợp.

3. Biến chứng

Bình thường gai cột sống xuất hiện nhiều hơn ở cạnh hoặc phía trước cột sống cho nên gai không cọ sát với rễ dây thần kinh hoặc với tủy sống ở phía sau, do đó gai ít gây ra các biến chứng nguy hiểm.
Tuy nhiên, một số trường hợp hiếm có thể xảy ra là gai gẫy, mảnh gẫy chạy vào giữa khớp xương, gây khó khăn cho sự co ruỗi khớp hoặc khi gai đè vào rễ dây thân kinh và gây ra mất cảm giác ở tay chân.

4. Điều trị

Nếu gai không gây đau, không cần điều trị.
Bệnh nhân tìm tới bác sĩ khi các cơn đau và các khó khăn khi cử động khiến cho họ phải giới hạn các hoạt động bình thường và ảnh hưởng tới nếp sống.
Khi gai gây đau thì sự điều trị tập trung ở nguyên nhân gây ra gai, dấu hiệu bệnh hoặc sự hiện diện của gai.
- Với nguyên nhân, việc giảm cân để giảm sức nặng lên xương khớp là điều cần làm.
- Điều trị dấu hiệu đau gồm có nghỉ ngơi khi sưng viêm, chườm nước đá, uống thuốc chống viêm không có steroid như paracetamol, ibuprofen.
Trong trường hợp đau nhiều, bác sĩ có thể chích thuốc steroid tại chỗ để giảm viêm và đau của cơ bắp.
Thuốc viên steroid là thuốc chống viêm rất mạnh và rất công hiệu để trị viêm. Tuy nhiên, thuốc có nhiều tác dụng không muốn nếu dùng không đúng cách và không có chỉ định của bác sĩ. Dùng lâu, steroid có thể đưa tới mục xương, cao huyết áp, giữ nước trong cơ thể.
Xin lưu ý là, hiện nay tại Việt Nam, có nhiều thuốc chống đau nhập cảng hoặc sản xuất tại chỗ gọi là đông dược mà lại có pha thêm steroid. Tác dụng chống viêm sẽ mau hơn nhưng tác dụng phụ có hại cũng rất nhiều. Bộ y tế Việt Nam đã nhiều lần báo động dân chúng về vấn đề này.
- Gai cột sống có thể được cắt bỏ với vi phẫu thuật rất chính xác. Nhưng sau khi cắt, gai có thể mọc trở lại.
Cắt bỏ chỉ được chỉ định khi gai chèn ép vào hệ thần kinh, gây ra các dấu hiệu như tê chân tay, rối loạn đại tiểu tiện, đau lan tới tứ chi và ảnh hưởng xấu tới sinh hoạt thường nhật
Châm cứu có thể làm giảm đau một phần nào ở phần mềm nhưng không có tác dụng vào tình trạng viêm sưng cũng như khi gai tác động lên rễ dây thần kinh não tủy.
 Vật lý trị liệu, thoa bóp, luyện tập xương khớp, thực hành yoga cũng giúp giảm ảnh hưởng của gai.

5. Kết luận

Một trong nhiều nguyên nhân chính gây ra gai cột sống là thoái hóa viêm xương khớp.
Để có thể tránh viêm xương khớp bằng cách thường xuyên vận động cơ thể để xương khớp, cơ bắp bền mạnh hơn; giảm cân nếu mập phì; tránh các chấn thương lên xương khớp và ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng mà cơ thể cần.


Theo thời gian, quá trình thoái hóa diễn ra ngày càng nhanh và trầm trọng. Trong đó, nếu cột sống cổ thoái hóa ở mức độ nặng, các chồi xương và khối lồi thoát vị đĩa đệm sẽ phát triển theo nhiều chiều hướng khác nhau, tủy sống cổ bị chèn ép sẽ xuất hiện hội chứng cổ - tủy sống, đe dọa sinh mệnh người bệnh. Không những thế, thoái hóa cột sống cổ còn gây nên nhiều hội chứng phức tạp, nguy hiểm.


Hội chứng cổ - tủy sống



 Nói chung, hậu quả hội chứng tủy sống - cổ do thoái hóa cột sống cổ rất nặng nề. Phần lớn trường hợp khối lồi hay thoát vị đĩa đệm và các chồi xương phát triển theo hướng ra bên hoặc sau - bên. Chỉ trong các trường hợp ngoại lệ, đĩa đệm mới lồi ra theo hướng trung tâm hoặc cạnh - trung tâm thì mới gây chèn ép tủy. Các biểu hiện lâm sàng thường gặp là: chủ yếu xuất hiện ở hai chi dưới, tăng phản xạ gân xương, phản xạ bệnh lý bó tháp dương tính hoặc rối loạn cảm giác kiểu phân ly. Liệt nửa người hay hạ liệt cứng (liệt hai chân) cũng có thể xảy ra.


 Trong giai đoạn quá độ chuyển sang mạn tính, bệnh nhân bị rối loạn dáng đi và dẫn đến mất điều hòa vận động (thất điều). Tổn thương tủy sống do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ có đặc điểm là xuất hiện rất từ từ với ít hoặc nhiều hội chứng không đặc hiệu. Bệnh thường được phát hiện muộn. Chẩn đoán xác định bằng chụp tủy, chụp cắt lớp vi tính hay chụp cộng hưởng từ và loại trừ u tủy cổ. Về điều trị, chỉ có phẫu thuật mới mang lại kết quả tốt với điều kiện phải được xử trí sớm.



Hội chứng cổ - nội tạng


Hội chứng cổ - tim: Đó là cơn đau thắt tim do thoái hóa cột sống cổ. Gunther và Sampson là những người đầu tiên mô tả về hội chứng đau âm ỉ ở vùng tim trong bệnh lý cột sống cổ. Tiếp sau đó, nhiều tác giả đã chứng minh sự tồn tại của các rối loạn tim hoặc đau vùng ngực trên trong sụn thoái hóa cột sống cổ. Những thay đổi bệnh lý của các hạch giao cảm cổ có thể do thoái hóa cột sống có thể ảnh hưởng đến sự chi phối thần kinh ở tim qua dây thần kinh tim.


 Ngoài ra, những nhánh của năm hạch lưng trên của dây phế vị (dây thần kinh sọ não số X) và dây thiệt - hầu cũng đi qua đám rối thần kinh tim nông và sâu. GS. Yumashev đã gặp 170 trường hợp hội chứng cổ tim, trong đó có 32 trường hợp được chuyển từ khoa nội sang.




hinh-anh-thoai-hoa-cot-song-co



Các triệu chứng thường gặp do thoái hóa cột sống cổ.


Khi bị hội chứng cổ tim, người bệnh có cảm giác đau như đè nén, như khoan ở toàn bộ vùng tim hoặc sau xương ức. Cơn đau kéo dài từ 60 - 90 phút. Có bệnh nhân khởi phát đau ở vùng tim, có bệnh nhân có cơn co giật, được báo trước bằng đau ở vùng vai, đặc biệt ở khu vực giữa hai xương bả vai (vùng lưng). Đặc trưng là triệu chứng đau ở vùng tim tăng lên khi cử động đầu hoặc nâng một cánh tay lên hoặc ho.


Rối loạn cảm giác kiểu “nửa áo khoác” chỉ thấy ở ít bệnh nhân. Trong cơn đau vùng tim, đa số bệnh nhân phàn nàn về các triệu chứng đánh trống ngực, nhịp tim nhanh và ngoại tâm thu. Trên điện tâm đồ không có những biến đổi đặc hiệu của thiếu máu cơ tim. Chụp Xquang cột sống cổ đều có biểu hiện thoái hóa.



Hội chứng cổ - túi mật:
Cũng như hội chứng tim, hội chứng túi mật trong thoái hóa cột sống cổ đã được nhiều tác giả giải thích bằng cơ chế phản xạ và do nguồn gốc rối loạn thần kinh thực vật ở khu vực cổ.



Hội chứng cổ sau chấn thương


 Do vị trí và đặc điểm sinh - cơ học của cột sống cổ là ở thế bất lợi của một bộ phận tương đối lỏng lẻo giữa đầu và thân nên đặc biệt dễ bị chấn thương. Nếu một trong hai phần cơ thể đó (đầu hoặc thân) bị tăng tốc hoặc hãm đột ngột thì cột sống cổ phải chịu sức căng rất lớn. Chừng nào đĩa đệm cột sống chưa bị thoái hóa, khả năng đàn hồi có thể cáng đáng được chức năng thì cột sống cổ có thể vượt qua được những đụng độ, chấn thương mạnh.




Nhưng khi đã bị thoái hóa thì đĩa đệm cột sống dễ bị tổn thương hơn. Tùy theo hướng và cường độ của lực tác động, cột sống cổ phải chịu tổn thương theo nhiều cơ chế khác nhau. Vì cột sống có thể vận động về các phía nên các vận động quá tầm như quá cúi, quá ưỡn hay quay cổ về bên quá mức thường dễ xảy ra trong lao động nghề nghiệp hay trong đời sống sinh hoạt, thể thao (phi công, nhảy cầu bổ nhào đầu xuống nước…), tai nạn giao thông.
Nói chung, những hội chứng này thường có những dấu hiệu, biến chứng tương tự, gần giống với những rối loạn nội tạng và tổn thương hệ thần kinh trung ương nên dễ bị coi nhẹ, dễ nhầm trong chẩn đoán nguyên nhân, dẫn đến hướng xử trí đơn giản, chậm, không lường được những hậu quả nặng nề của quá trình tiến triển bệnh. Người bệnh cũng cần cảnh giác, tự mình theo dõi trước những diễn biến bất thường từ lúc mới khởi phát bệnh và không ngần ngại đến với thầy thuốc chuyên khoa.       

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013


Thoái hóa đốt sống cổ là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ. Bệnh thường xuất hiện ở người 40-50 tuổi, sử dụng nhiều động tác ở vùng đầu cổ, có cường độ lao động cao (làm suốt ngày không nghỉ),… gây ra nhiều khó khăn trong sinh hoạt và lao động ảnh hưởng đến chất lượng sống cho người bệnh.
Những ai có nguy cơ mắc?
Thoái hóa đốt sống cổ thường gặp ở những người có tư thế lao động cúi và sử dụng nhiều động tác ở vùng đầu cổ, có cường độ lao động cao (làm suốt ngày không nghỉ) và thâm niên lao động (tuổi nghề): có thể gặp ở người đi cấy (thoái hóa đốt sống cổ và đốt sống lưng), thợ cắt tóc, thợ sơn trần, diễn viên xiếc, bác sĩ chuyên khoa răng,...
Những người có người thân từng mắc căn bệnh này cũng có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn những người trong gia đình không có người bị bệnh. Những người cao tuổi (do quá trình lão hóa  của xương khớp), những người hút thuốc lá,  phụ nữ sau mãn kinh, người dùng thuốc kháng viêm thuộc nhóm corticoid kéo dài có tỉ lệ bị thoái hóa cột sống cổ nhiều hơn người bình thường…

Cách phát hiện?
Giai đoạn đầu của quá trình lão hóa người bệnh không thấy có cảm giác khác thường. Khi bệnh tiến triển một thời gian sẽ xuất hiện các triệu chứng sau: bệnh nhân có cảm giác mỏi vùng cổ-vai, đau vùng cổ-gáy (đôi khi làm nhức đầu), làm hạn chế cử động xoay đầu và cổ, đau có thể lan sang 1 hoặc 2 vai và lan đến 1 hoặc 2 tay, làm tê và giảm cảm giác các ngón tay.  Nếu không điều trị, tùy theo rễ thần kinh chi phối bị chèn ép, đôi khi có cảm giác “kiến bò”, hoặc đau như “điện giật” lan từ vai xuống đến ngón tay, giảm và mất cảm giác, teo cơ hoặc yếu liệt, tay chân. Ở giai đoạn nặng hơn, cảm giác đau xuất hiện thường xuyên hơn và ngày càng tăng, làm hạn chế các hoạt động sinh hoạt của người bệnh, những tổn thương này sẽ khó phục hồi. Khi tổn thương ở đoạn đốt sống C1-C2, C4 này người bệnh còn có biểu hiện nấc, ngáp, chóng mặt...

Các biến chứng có thể gặp
Nếu bệnh nặng có thể gặp các biến chứng  như: các triệu chứng chèn ép thần kinh gây đau dọc từ cổ xuống vai và cánh tay một hoặc cả hai bên; chèn ép các động mạch đốt sống gây đau đầu, chóng mặt; hãn hữu có chèn ép tủy, biểu hiện bằng yếu, đau tứ chi, đi lại khó khăn hoặc liệt không vận động được. Bên cạnh đó, thoái hóa đốt sống cổ gây nên hội chứng tủy với biểu hiện: đi không vững, cảm giác tê ở thân, bàn tay và các ngón tay cử động vụng về, liệt và teo cơ; liệt chân hoặc tay; teo cơ ngọn chi; đi bộ khó khăn; rối loạn cảm giác tê bì ngọn chi trên, mất vận động chi trên; mất vận động chi dưới; rối loạn cơ thắt, đái khó, đái són, đái ngắt quãng...

26000

Tại cơ sở y tế
Để chẩn đoán cũng như đánh giá các loại tổn thương, ngoài việc khám bệnh, bác sĩ phải thực hiện một số các khảo sát hình ảnh: như chụp Xquang cột sống cổ nhiều tư thế, chụp cắt lớp đa lát cắt (MS CTScan), chụp cộng hưởng từ cột sống cổ (MRI), đo mật độ xương (độ loãng xương),…
Tùy theo tình trạng cụ thể ở từng người bệnh mà bác sĩ sẽ quyết định điều trị nội khoa (dùng thuốc) phối hợp với các phương pháp vật lý trị liệu.Thời gian điều trị có thể kéo dài. Nếu việc điều trị nội khoa đúng mức mà bệnh không giảm thì bác sĩ sẽ xem xét khả năng can thiệp thủ thuật hay phải phẫu thuật nhằm lấy đi các thương tổn gây chèn ép thần kinh và làm cho cột sống phần nào được vững chắc trở lại.

Phòng ngừa thoái hóa đốt sống cổ
Để tránh bị thoái hóa cột sống cổ hoặc làm chậm sự tiến triển tiếp tục của thoái hóa cột sống cổ cần thay đổi tư thế làm việc sai lệch, lâu dài. Giữ tư thế đầu-cổ luôn thẳng khi làm việc, tránh những chấn thương cho cột sống cổ như đội vật nặng trên đầu, cúi-ngửa đầu quá mức. Không nên có động tác vặn bẻ cổ đột ngột khi thấy mỏi, bởi tất cả những động tác xoay đầu này sẽ làm tăng thoái hóa đốt sống cổ. Không hút thuốc lá, các chất kích thích có hại cho sức khỏe như rượu, bia,… Cần luyện tập thể dục thể thao nhẹ nhàng, phù hợp với sức khỏe, nên tham khảo ý kiến bác sĩ về phương pháp luyện tập.

Càng cao tuổi bệnh thoái hoá khớp (THK) bàn tay, ngón tay, cổ tay càng dễ phát triển. Đây là một bệnh khớp gặp ở cả nam và nữ nhưng nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn. Mặc dù bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và cuộc sống hằng ngày.
Nhiều nguyên nhân dẫn đến THK bàn tay, cổ tay


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến THK bàn tay, ngón tay, trong đó tuổi tác và giới tính cần quan tâm nhất. Bệnh thường xảy ra ở người trưởng thành, đặc biệt là người cao tuổi, trong đó nữ giới chiếm tỷ lệ 2/3 các trường hợp THK bàn tay, cổ tay. Nguyên nhân dẫn đến THK này đa số là do:



Tuổi tác: Tuổi đời càng cao thì bệnh THK nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng càng gia tăng do hiện tượng lão hoá các chức năng của cơ thể đặc biệt đối với nữ giới do suy giảm lượng hormon sinh dục. Sự THK là do lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng giảm sút một cách đáng kể và từ từ làm cho tổ chức sụn khớp thiếu chất dinh dưỡng. Trong khi sự thiếu hụt càng ngày càng gia tăng thì sức chịu đựng của sụn khớp càng ngày càng giảm bởi các tác động hằng ngày, liên tục lên khớp.


Làm việc nhiều với bàn tay:



Những người phải làm việc nhiều với bàn tay của mình như phụ nữ làm công việc nội trợ (giặt giũ, lao động tay chân…), béo phì,… càng dễ mắc bệnh THK nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng. Ngay cả sự THK cũng hay gặp ở bàn tay, ngón tay nào vận động nhiều hơn, người thuận tay phải thì khớp bàn tay phải và khớp các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa cũng sẽ dễ bị thoái hoá hơn các khớp bàn tay trái không thuận và khi bị thoái hoá thì các khớp bàn tay phải cũng có biểu hiện nặng hơn, thoái hoá, biến dạng khớp nhiều hơn. Trong các trường hợp viêm đa khớp dạng thấp thì hiện tượng THK cổ tay, bàn tay, ngón tay cũng chiếm tỷ lệ cao hơn các khớp khác.

Thiếu hụt canxi: Tỷ lệ người thiếu hụt canxi chiếm đa số là người lớn, trong đó đáng chú ý nhất là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh. Sự thiếu hụt canxi này cũng là một trong các nguyên nhân gây THK bàn tay, ngón tay.


Sau chấn thương: THK bàn tay, ngón tay cũng có thể gặp sau chấn thương, gãy xương, viêm khớp dạng thấp, bệnh gút hoặc một số bệnh rối loạn chuyển hoá như bệnh đái tháo đường. Đối với người cao tuổi còn có một nguyên nhân nữa là ít vận động cơ thể hoặc lười vận động.

cau-truc-canxi
Cấu trúc của canxi - nếu thiếu thành phần này trong cơ thể dễ dẫn đến thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay.


Những dấu hiệu điển hình của bệnh


Có một số triệu chứng cần quan tâm là đau, cứng khớp. Đau xảy ra khi vận động, gọi là đau kiểu cơ học và giảm đau khi các khớp được nghỉ ngơi (không cử động, không vận động). Tính chất đau không dữ dội mà thông thường chỉ biểu hiện ở mức nhẹ hoặc trung bình, thời gian đau kéo dài khoảng 15 - 30 phút, có khi lâu hơn. Thời gian đau khớp còn tùy thuộc vào mức độ nặng, nhẹ của sự tổn thương khớp. Ngoài các khớp bị đau thì đôi khi còn bị sưng nhẹ. Biểu hiện của triệu chứng cứng khớp thường rõ ràng hơn nhiều.


Cứng khớp xuất hiện lúc mới ngủ dậy buổi sáng sớm hoặc sau giấc ngủ buổi trưa. Cứng khớp biểu hiện như khó cử động hoặc cử động không mềm mại, uyển chuyển và dần dần bàn tay sẽ xuất hiện hiện tượng khó thực hiện các thao tác trong sinh hoạt hằng ngày như cầm nắm đồ vật không chắc (có khi cầm không chắc bị rơi đồ vật) hoặc thực hiện không chuẩn các thao tác khi tắm, rửa, giặt giũ quần áo. Song song với rối loạn các động tác cầm nắm thì các cơ ở bàn tay, ngón tay cũng sẽ bị teo nhỏ dần và các khớp bàn tay, ngón tay bị biến dạng.


Làm sao để không bị thoái hóa khớp bàn tay, cổ tay?


Muốn phòng bệnh có hiệu quả thì những đối tượng có nguy cơ cao bị THK bàn tay, cổ tay (phụ nữ làm việc chân tay nhiều, những người nội trợ…) tránh lao động nặng. Khi làm việc với đôi tay nên có thời gian nhất định để bàn tay được nghỉ ngơi, không làm việc liên tục nhiều giờ liền.


Trong cuộc sống hằng ngày hoặc trong lao động, nếu có máy móc thay thế cho bàn tay thì nên tận dụng (ví dụ máy rửa bát đĩa, cối xay thịt thay cho bàn tay…). Sau mỗi buổi sáng ngủ dậy nên tập nhẹ nhàng các khớp cổ tay, bàn tay và ngón tay.


Nếu có điều kiện nên ngâm bàn tay vào nước muối sinh lý ấm, mỗi ngày khoảng 2 lần (sáng và tối trước khi đi ngủ), mỗi lần khoảng 10 phút. Tránh hiện tượng tăng cân, ăn uống hợp lý, năng vận động cơ thể. Nếu mắc một số bệnh về chuyển hoá hoặc chấn thương bàn tay, ngón tay nên điều trị dứt điểm và theo chỉ định của bác sĩ.


Để chẩn đoán bệnh THK bàn tay, ngón tay  thì ngoài các triệu chứng lâm sàng còn có thể chụp Xquang khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay; nếu có điều kiện nên tiến hành một số xét nghiệm như máu lắng xác định yếu tố dạng thấp RF (Rheumatoid Factor)… Những trường hợp nghi ngờ bị THK nên được khám bệnh sớm để xác định và điều trị kịp thời, tránh để xảy ra các biến chứng về xương khớp.

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

(ĐTĐ) – Những ngày cuối năm công việc bộn bề mà anh Vĩnh Hùng lại bị đau cổ không quay đầu được. Than thở thì bị vợ trách là… nhậu quá hóa bệnh. Còn bạn bè lại tặc lưỡi: Chắc tối ngủ sai tư thế nên bị đau đâu đó.

Cạo gió, giác hơi, đắp salonpas cũng chẳng thấy bớt. Đến bệnh viện khám mới hay mình bị thoái hóa đốt sống cổ, nhìn quanh thấy người cùng bệnh đến khám không ít. Lạ là số phụ nữ mắc bệnh này có vẻ nhiều hơn hay sao mà anh Hùng thấy cùng ngồi chờ quanh mình toàn phụ nữ…


Bác sĩ Phạm Thị Thúy Nga, Khoa điều trị đau Bệnh viện FV cho biết: Bước vào tuổi trung niên, nhiều người rất dễ mắc bệnh thoái hóa đốt sống cổ do công việc phải cử động vùng cổ nhiều, cường độ lao động cao. Những người dễ bị thoái hóa đốt sống cổ như thợ may, thợ cắt tóc, thợ sơn trần nhà, nha sĩ, diễn viên xiếc,… Khi mới mắc bệnh có thể cả thời gian dài người bệnh không có cảm giác đau đớn gì. Tùy lúc phát bệnh, có thể do thời tiết, có khi do làm việc quá sức…, bệnh mới biểu hiện các triệu chứng như: Vướng và đau khi quay động tác cổ, thỉnh thoảng thấy vẹo cổ, cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, cổ, ảnh hưởng tới tư thế đầu cổ, đau lan lên đầu, có thể nhức đầu ở vùng chẩm, vùng trán, đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay ở một bên hay ở cả hai bên. Nặng hơn thì có cảm giác cứng gáy, có điểm đau khi ấn vào các gai xương và các mỏm ngang của cột sống cổ, chụp X-quang cột sống cổ thấy mất đường cong sinh lý, hẹp đĩa liên đốt, biến dạng ở thân đốt, có các gai xương.
Thoái hóa đốt sống cổ gây tổn thương vào lỗ tiếp hợp, có thể gây rối loạn tuần hoàn não. Người bệnh cần được thăm khám lâm sàng thần kinh kết hợp với thăm dò siêu âm để xử trí kịp thời.
Về điều trị, trước tiên, cần loại trừ chứng đau gáy chẩm, đau gáy bả vai, cánh tay do u hố sau, u tủy cổ. Khi đã xác định bệnh, cần điều trị thoái hóa, chủ yếu là dùng thuốc giảm đau thông thường và xoa – gõ vùng gáy, mặt, bụng. Nên dùng thêm vitamin E (400 UI/ngày). Kết hợp điều trị phục hồi chức năng chung của toàn cơ thể (nhất là đối với người cao tuổi) với các hình thức thư giãn, sinh hoạt câu lạc bộ. Đối với người có nghề nghiệp dễ dẫn đến thoái hóa đốt sống cổ, cần phân phối đều giữa lao động và nghỉ ngơi, thư giãn, các xoa bóp phục hồi chức năng (nhất là các diễn viên xiếc).
Nhiều người do đau quá và nghĩ nguyên nhân nằm ngủ lệch thế nên hay tìm đến dịch vụ massage để đấm bóp, điểm huyệt. Tuy nhiên lời khuyên cho người bệnh để đề phòng hiện tượng “gãy”, trật khớp mỏm nha gây liệt tứ chi hoặc tử vong… tuyệt đối không được “vặn”, “ấn cổ”, khi ngủ không nên nằm gối đầu quá cao.
Giới áo đầm, cổ cồn cũng có nguy cơ bị thoát vị đĩa đệm, cứ tưởng bệnh chỉ “kết” người mang vác nặng, làm việc chân tay nhiều..

Ngồi lâu một tư thế, đổi tư thế đột ngột là lỗi phổ biến, gây thoát vị đĩa đệm



Dấu hiệu nhận biết

Dấu hiệu nhận biết đầu tiên thường là đau lưng, đau cổ lan xuống vai, tê mỏi chân tay, háng, rồi theo thời gian sẽ diễn tiến xuống chân hay rối loạn vận động cảm giác phần thân dưới… Có thể nói, thoát vị đĩa đệm chẳng kiêng dè độ tuổi nào.

Trong khi những người thuộc nhóm ngành nghề khác thường bị thoát vị đĩa đệm do tai nạn lao động, phải mang vác nặng, té ngã, chấn thương hay do tuổi tác thì nhân viên văn phòng lại chủ yếu do ngồi một chỗ trong nhiều tiếng đồng hồ liên tục, không vận động.

Họ cũng thường hay dư cân, bụng to. Những điều này làm đĩa đệm giữa hai đốt sống bị tăng áp lực, dễ thoát vị ra phía ngoài, chèn vào các rễ thần kinh tủy sống và gây đau đớn.

Điều trị

Hầu hết bệnh nhân thoát vị đĩa đệm bắt đầu điều trị bằng phương pháp vật lý trị liệu và dùng thuốc, trừ khi có tổn thương quá nặng, có liệt chân, tay – phải can thiệp ngoại khoa ngay. Việc điều trị bảo tồn này có thể kéo dài từ 3 đến 6 tháng.

Nếu may mắn kết quả tốt, tình trạng bệnh sẽ được cải thiện thấy rõ, hết viêm, sưng đau. Ngược lại, bệnh nhân cần chuẩn bị tâm lý cho các phương pháp điều trị có xâm lấn.

Đến nay, nhiều người vẫn nghĩ điều trị bằng vật lý trị liệu chỉ là tập theo một số động tác nào đó. Thật ra, điều trị vật lý trị liệu còn bao gồm việc sử dụng máy móc với các tia chiếu phù hợp, có tác dụng giảm đau, chống co cứng cơ, giãn mạch, tăng cường chuyển hóa dinh dưỡng như kéo giãn cột sống bằng hệ thống kéo giãn kỹ thuật số…

Rất nhiều nhân viên văn phòng thấy vật lý trị liệu hiệu quả, giúp họ bớt hẳn tê đau cứng vùng cổ, lưng, tay, vai khi điều trị khoảng một tiếng đồng hồ mỗi ngày với các phương pháp thích hợp.

Phòng tránh

Nhân viên văn phòng nên có một số bài thể dục cho vùng cổ, lưng ngay tại ghế làm việc. Sau mỗi tiếng, nên đứng dậy đi lại, vận động nhẹ nhàng.

Những người dư cân, đặc biệt là béo phì, bụng bự sẽ tăng nguy cơ võng cột sống, từ đó gián tiếp tăng nguy cơ bị thoát vị đĩa đệm. Thay vì đến các quán nhậu sau giờ làm, nhân viên văn phòng nên chọn đăng ký một môn thể dục vừa sức mà mình yêu thích.

Tránh việc thay đổi tư thế đột ngột. Chẳng hạn, bạn quay ngoắt đầu khi nghe có tiếng gọi, bất ngờ quay vẹo cột sống để lấy đồ mà không xoay cả người cũng có thể gây thoát vị đĩa đệm rồi.

Đa số các chấn thương khi tập thể dục thể thao cũng do không khởi động, dẫn đến co cơ đột ngột.

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Đau cột sống thắt lưng là một triệu chứng đau cấp tính hoặc mạn tính ở vùng ngang đốt sống thắt lưng L1 – L5 và S1 bao gồm cột sống thắt lưng và các tổ chức xung quanh do nhiều nguyên nhân gây ra (bệnh lý đĩa đệm, cột sống, thần kinh, nội tạng…).



Y học cổ truyền phân dạng và bài thuốc dưới đây.
Đau lưng cấp do co cứng cơ

Triệu chứng: Đau đột ngột sau khi bị lạnh, đau nhiều không cúi được, đau thường khu trú ở một bên cột sống, các cơ lưng co cứng, ấn đau, mạch trầm huyền.

Bài thuốc: Quế chi  8g, rễ lá lốt  8g, thiên niên kiện 8g, ý dĩ 16g, ngưu tất 16g, tỳ giải 16g, kê huyết đằng 16g, trần bì 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Đau lưng
Đau lưng do thay đổi tư thế, mang vác nặng

Triệu chứng: Sau khi mang vác nặng hoặc sau một động tác thay đổi tư thế đột nhiên bị đau, thường là đau một bên, đau dữ dội, vận động hạn chế, không cúi được.

Thuốc: Muối rang đắp nóng; Chườm ngải cứu nóng; Cồn xoa bóp: Ô đầu sống, quế, đại hồi (không được uống vì ô đầu độc).
Đau lưng do thoái hoá cột sống

Triệu chứng: Đau lưng âm ỉ, hay tái phát, ăn ngủ kém, mạch nhu hoãn, trầm nhược.

Bài thuốc: Độc hoạt 12g, tang ký sinh 12g, phòng phong 12g, tế tân 4g, quế chi 6g, ngưu tất 12g, đỗ trọng 12g, đẳng sâm 12g, phục linh 12g, cam thảo 6g, bạch thược 12g, đương quy 12g, thục địa 12g,  đại táo 12g. Sắc uống.
Nguồn Bee.net.vn

Đau lưng sau khi quan hệ là một tình trạng phổ biến do căng cơ bắp hoặc căng dây chằng khi quan hệ. Các cơn đau hạn chế sự linh hoạt và vận động của người bệnh. Dưới đây là lời khuyên giúp bạn thoát khỏi tình trạng này

Quá trình điều trị đau lưng là quá trình áp dụng lâu dài và phối hợp nhiều phương pháp khác nhau. Nó đòi hỏi người bệnh phải kiên nhẫn. Dưới đây là những gợi ý mà bạn có thể áp dụng tài nhà.

Đau lưng sau khi quan hệ do căng cơ bắp
Nghỉ ngơi/thư giãn: Nếu bạn bị đau lưng sau khi quan hệ, thì việc cần làm sau đó là nghỉ ngơi và thư giãn. Tình trạng đau lưng có thể thuyên giảm sau một vài tuần nghỉ ngơi hợp lý. Tuy nhiên, không nên kéo dài thời gian không hoạt động vì có thể dẫn tới tình trạng teo cơ bắp.
Sử dụng thuốc giảm đau không cần kê toa: Một số loại thuốc giảm đau kháng viêm như ibuproèn hoặc naxopren có thể giảm bớt cảm giác đau lưng. Nếu thuốc giảm đau không cần kê toa không làm giảm các triệu chứng đau sau một vài tuần thì cần đi khám bác sĩ để được dùng thuốc giảm đau mạnh hơn hoặc thuốc giãn cơ.
Biện pháp chữa đau lưng sau khi quan hệ
Nhiều thuốc giảm đau có tác dụng tại chỗ
Vật lý trị liệu: Biện pháp này đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm đau lưng sau khi quan hệ. Thậm chí người bệnh không cần tới bác sĩ châm cứu và có thể dùng các biện pháp an toàn tại nhà như chườm nóng hoặc lạnh để giảm sưng và đau. Ngoài ra, nên kết hợp với các bài tập vận động cơ bắp để cải thiện tính linh hoạt và thay đổi tư thế khi quan hệ.
Thảo dược bổ sung: Đau lưng có thể điều trị thông qua sử dụng một số loại thảo dược nhất định. Mặc dù chỉ là kinh nghiệm lưu truyền trong dân gian nhưng những thảo mộc sau được chứng minh có tác dụng giảm đau như ớt (bôi tại chỗ), vỏ cây liễu (uống)
Mát-xa: Mát-xa sẽ giúp cải thiện tình trạng đau lưng sau khi quan hệ do căng thẳng và cơ bắp phải làm việc quá sức. Mát-xa giúp thư giãn và thả lỏng cơ bắp, từ đó chữa đau lưng hiệu quả.
Cách giảm đau lưng sau khi quan hệ cực hiệu quả
Mát-xa có tác dụng giảm đau lưng sau khi quan hệ
Nếu áp dụng các biện pháp trên nhưng triệu chứng đau lưng vẫn không thuyên giảm, người bệnh nên đi khám bác sĩ để tìm ra nguyên nhân thực sự. Đau lưng có thể là dấu hiệu của bệnh mãn tính khác như bệnh thận…
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -