Hiển thị các bài đăng có nhãn cách phòng bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cách phòng bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

Hầu như trong mỗi chúng ta ai cũng đều từng bị đau khớp gối. Có thể do tuổi già, do chấn thương, hoặc do mắc các bệnh về khớp gối, bệnh gut, tràn dịch khớp gối…Có nhiều phương pháp để chữa bệnh đau khớp gối như dùng thuốc, vật lý trị liệu hoặc tự chăm sóc. Những trường hợp nặng bệnh nhân có thể phải dùng đến phương pháp phẫu thuật hoặc thay khớp gối nhân tạo.




Tìm hiểu nguyên nhân và triệu chứng đau khớp gối

Tại sao bị đau khớp gối

Đau khớp gối là một khiếu nại phổ biến ảnh hưởng đến mọi người thuộc mọi lứa tuổi. Đau khớp gối có thể là kết quả của một chấn thương, chẳng hạn như một dây chằng bị đứt hoặc sụn bị rách. Điều kiện y tế – bao gồm cả bệnh gút, viêm khớp và các nhiễm trùng – cũng có thể gây đau khớp gối.

Nhiều loại đau khớp gối nhẹ đáp ứng tốt với các biện pháp tự chăm sóc. Vật lý trị liệu và đầu gối nẹp cũng có thể giúp giảm đau khớp gối. Trong một số trường hợp, tuy nhiên, đầu gối có thể yêu cầu phẫu thuật sửa chữa.

Các triệu chứng khi đau khớp gối

- Các vị trí và mức độ nghiêm trọng của cơn đau khớp gối có thể khác nhau, tùy thuộc vào nguyên nhân của vấn đề. Khi bạn bị các dấu hiệu và triệu chứng dưới đây có thể bạn đang bị đau khớp gối:

- Sưng và cứng khớp.

- Đỏ và ấm khi chạm vào.

- Điểm yếu hoặc mất ổn định.

- Tiếng lạo xạo khớp gối.

- Cứng, hoặc không có khả năng đầy đủ thẳng đầu gối.

Khi có các triệu chứng sau bạn nên đến gặp các bác sĩ để được điều trị:

- Không thể chịu trọng lượng trên đầu gối.

- Đã sưng đầu gối.

- Không thể hoàn toàn mở rộng hoặc nhún đầu gối.

- Một biến dạng rõ ràng ở chân hay đầu gối.

- Bị sốt, đau, tấy đỏ và sưng ở đầu gối.

Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đau khớp gối, đầu gối

Đau khớp gối có thể được gây ra bởi chấn thương, các vấn đề cơ khí, các loại viêm khớp và các vấn đề khác.

1. Bị thương: Một chấn thương đầu gối có thể ảnh hưởng đến bất kỳ các dây chằng, gân hoặc túi chứa đầy dịch (bursae) bao quanh khớp gối cũng như xương sụn và dây chằng các khớp riêng. Một số chấn thương đầu gối thường bao gồm:

ACL chấn thương : Chấn thương ACL là rách dây chằng cruciate trước (ACL) – một trong bốn dây chằng nối xương ống quyển đến xương đùi. Chấn thương ACL là đặc biệt phổ biến ở những người chơi bóng rổ hoặc đi trượt tuyết, bởi vì nó liên quan đến thay đổi đột ngột về hướng.

Rách sụn chêm (torn meniscus) : Sụn này được hình thành và hoạt động như một chất hấp thụ sốc giữa xương ống quyển và xương đùi. Nó có thể bị rách nếu đột nhiên xoay đầu gối trong khi mang trọng lượng trên nó.

Viêm bao hoạt dịch đầu gối (bursae): Một số chấn thương đầu gối gây viêm ở bursae, các túi nhỏ của chất lỏng bên ngoài của đệm đầu gối để liên gân và dây chằng trượt trơn tru trên các khớp.

Viêm gân bánh chè: Viêm gân là kích ứng và viêm của một hoặc nhiều dây chằng, dày sợi có gắn cơ bắp đến xương. Trượt tuyết và đi xe đạp dễ bị viêm gân bánh chè, nối các cơ bốn đầu trên mặt trước của đùi để xương ống quyển.

2. Các nguyên nhân khác

Vỡ xương, sụn. Đôi khi chấn thương hoặc thoái hóa của xương hoặc sụn có thể gây ra một mảnh xương hay sụn vỡ ra và trôi nổi trong không gian chung. Điều này có thể tạo ra bất kỳ vấn đề, trừ khi cơ thể mất cản trở chuyển động khớp gối.

Hạn chế khớp gối. Điều này có thể xảy ra từ một sụn rách. Khi một phần sụn vỡ bên trong khớp gối, không thể thẳng hết đầu gối.

Trật khớp xương bánh chè. Điều này xảy ra khi xương hình tam giác (xương bánh chè) bao gồm mặt trước của đầu gối phiếu trên, thường ra bên ngoài của đầu gối. Có thể xem lệch mạng và xương bánh chè có thể di chuyển quá nhiều từ phía bên.

Hông hay đau chân. Nếu có hông hay đau chân, có thể thay đổi cách đi bộ để phụ tùng các khớp đau đớn. Nhưng điều này thay đổi dáng đi có thể cản trở sự liên kết của xương bánh chè và diễn ra căng thẳng hơn vào khớp gối. Trong một số trường hợp, vấn đề ở hông hay bàn chân có thể đau đến đầu gối.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Các bác sĩ của phòng khám đa khoa Năm Châu chỉ ra rằng bệnh gút là một dạng viêm khớp thường phát bệnh đầu tiên ở ngón chân cái. Quan niệm lâu nay luôn cho rằng người mắc chứng này nên tránh xa một số thực phẩm giàu đạm để tránh phát bệnh.





Tuy nhiên, trước nay giới chuyên gia vẫn chưa rõ liệu những thực phẩm này có thể gây nên những đợt tấn công ngay lập tức cho cơ thể bệnh nhân hay không. Mới đây, các bác sĩ của phòng khám đa khoa Năm Châu cho thấy các loại thịt, hải sản và thực phẩm giàu đạm là thủ phạm làm tăng số lần phát bệnh tức thời cao gấp 5 lần ở những người đang bị gút hành hạ.

Các chuyên gia phòng khám Năm Châu đã rút ra kết luận trên khi phân tích hồ sơ bệnh án của hơn 600 người bị bệnh gút, hầu hết là đàn ông với độ tuổi trung bình khoảng 54. Những người này được theo dõi suốt 1 năm. Trong thời gian đó, các bệnh nhân bị bệnh gút đối mặt với tổng cộng gần 1.250 lần phát bệnh, hầu hết xảy ra ở khớp ngón chân cái

Khi xem lại chế độ ăn của các bệnh nhân, các chuyên gia phát hiện số đạm trung bình họ hấp thu trong 2 ngày không phát bệnh vào khoảng 1,66 gr, so với 2,03 gr trong 2 ngày trước khi lên cơn đau khớp dữ dội.

Bệnh nhân bị bệnh gút nằm trong nhóm 20% hấp thu đạm nhiều nhất đối mặt với nguy cơ chịu đau đớn vì phát bệnh cao gấp 5 lần so với nhóm 20% hấp thu đạm thấp nhất. Đạm có nguồn gốc động vật, như thịt và hải sản nguy hiểm hơn đạm có nguồn gốc thực vật như đậu, rau bina, măng tây và nấm.

Không những đạm thực vật chứa hàm lượng thấp hơn đạm động vật, chúng còn chứa dưỡng chất quan trọng và góp phần vào việc giảm tình trạng kháng insulin, giúp kiểm soát được bệnh gút. Những nguồn đạm nguy hiểm còn có thể kể đến là men bia và rượu.

Theo các chuyên gia, việc tránh xa hoặc giảm hàm lượng thực phẩm giàu đạm trong chế độ ăn, đặc biệt là đạm động vật, có thể cắt bớt nguy cơ tái phát bệnh gút và để phòng tránh bệnh gút 1 cách hiệu quả nhất. Vì đạm hiện diện trong nhiều loại thức ăn, khó có thể loại bỏ được nó khỏi chế độ ăn hằng ngày.

Người bệnh gút có thể chọn sản phẩm bơ sữa ít béo như sữa, phô mai, sữa chua. Bánh mì ngũ cốc nguyên hạt là một sự lựa chọn khác. Nên uống nhiều nước để tống axít uric khỏi cơ thể một cách nhanh chóng.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Bệnh xương khớp là bệnh của hệ thống vận động, bao gồm cơ, xương, khớp và các tổ chức quanh khớp (đầu xương, bao khớp, màng hoạt dịch, gân cơ và dây chằng). Có hơn 100 bệnh lý khớp, phổ biến nhất là viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis), lãng xương (osteoporosis), gút (gout).


Dinh dưỡng trong bệnh xương khớp





Bệnh xương khớp là một bệnh mãn tính, gây đau đớn, ảnh hưởng đến sức khỏe và giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh, có thể dẫn đến tàn phế, mất khả năng lao động mà điều trị lại rất tốn kém. Các biện pháp điều trị chỉ nhằm đẩy lui những đợt bệnh cấp tính, vì vậy nhiều người bệnh đã tự tìm mọi cách để khống chế, nghe mách bảo lẫn nhau từ thuốc men đến cách ăn uống chọn lựa thực phẩm, thậm chí kiêng khem đến mức bị suy dinh dưỡng nhưng bệnh vẫn cứ ngày càng nặng dần.

Cho đến nay chưa có bằng chứng khoa học chứng minh loại thực phẩm nào có thể điều trị lành bệnh khớp hoặc gây ra bệnh. Ngoại trừ, bệnh gút dễ bị tấn công nếu chế độ ăn chứa quá nhiều chất purin làm tăng lượng acid uric trong máu. Có một số loại thực phẩm có thể gây xuất hiện những đợt viêm khớp cấp trong bệnh viêm khớp dạng thấp và người bệnh cho chúng là nguyên nhân của bệnh, nhưng sự thật với người bệnh khác có thể không xảy ra.

Thực tế chỉ có một chế độ ăn hợp lý mới mang lại lợi ích cho người bệnh, giúp người bệnh đủ khả năng chống lại những đợt bệnh tấn công, đồng thời cũng giúp người bệnh phòng một số bệnh mãn tính khác như: đái tháo đường, cao huyết áp, tăng cholesterol máu... góp phần làm nặng nề thêm bệnh khớp.

Thế nào là ăn uống hợp lý?

Đảm bảo đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể để duy trì mức cân hợp lý. Cân nặng cơ thể gọi là hợp lý khi BMI = 18,5 - 23. Nếu BMI dưới 18,5 là thiếu cân, trên 23 là thừa cân.

Nếu bị thiếu cân, cần tăng thêm năng lượng ăn vào để tăng cân. Ngoài 3 bữa chính nên thêm 2 - 3 bữa phụ, chú ý các món ăn giàu năng lượng như: chiên xào, sữa béo, thêm vào sau bữa chính các món ăn như: trái cây ngọt, bánh ngọt, tàu hủ… Lưu ý: sau những đợt viêm cấp sức khỏe bị ảnh hưởng nhiều, mất các chất dinh dưỡng, ăn uống kém do đau đớn, sốt, rất dễ bị suy dinh dưỡng, cơ thể giảm sức đề kháng. Do đó, càng phải ăn uống nhiều hơn.

Nếu bị thừa cân, cần giảm năng lượng ăn vào để giảm cân. Hạn chế các món ăn béo ngọt, chiên xào, không ăn nhiều vào cữ tối, thay vào đó là các món rau, đậu, trái cây. Tăng thời gian vận động thể lực để tăng tiêu hao năng lượng. Đặc biệt người bệnh thoái hóa khớp, loãng xương, gút hay gặp ở tuổi trung niên, có tình trạng thừa cân béo phì kèm theo làm tăng gánh nặng lên các khớp, gây đau đớn, hạn chế vận động có thể dẫn đến xẹp các đốt sống, mòn khớp, cứng khớp, biến dạng khớp. Ngoài ra, thừa cân béo phì còn là nguy cơ của các bệnh lý mãn tính khác như: tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, ung thư… Do đó, giảm cân sẽ giúp giảm gánh nặng cho khớp và giảm nguy cơ mắc bệnh.
Ăn đủ các chất dinh dưỡng cần thiết:

Ăn nhiều các loại rau quả: mỗi ngày nên ăn hơn 300g rau các loại và hơn 200g trái cây, để cung cấp đủ các vitamin nhóm B, C, E, -caroten, khoáng chất kali, magiê là những chất chống oxy hóa có tác dụng phòng ngừa các bệnh thoái hóa.

Ăn đủ thức ăn giàu đạm: đạm động vật như: thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, nghêu, sò. Đạm thực vật như: tàu hủ, bột đậu nành, các loại đậu đỗ. Mỗi ngày nên ăn trung bình 50g thịt, 50 -100g cá, 100g đậu hủ, 30g đậu đỗ, trứng 3 - 4 quả/tuần. Nếu cholesterol máu cao hoặc có sỏi mật ăn 1 - 2 quả/tuần. Đặc biệt, có nhiều nghiên cứu cho thấy chất béo omega-3 có trong cá có thể giúp giảm viêm khớp.

Sữa: nên uống 2 - 3 ly/ngày. Nếu có thừa cân hoặc cholesterol máu cao thì thay bằng sữa tách béo. Sữa cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, khoáng chất đặc biệt giàu canxi rất cần thiết cho người bệnh xương khớp.

Chất béo: nên ăn vừa phải, chọn các loại dầu thực vật như: dầu mè, dầu nành, dầu phộng... trung bình 20g/ngày. Nếu thừa cân nên giảm thức ăn chiên xào, ăn thịt nạc bỏ da, các món kho luộc hấp. Nếu thiếu cân suy dinh dưỡng, cần tăng thêm chất béo trong thức ăn.

Ăn đủ thức ăn giàu bột: cơm, mì, nui, bắp, khoai, củ… để không bị suy dinh dưỡng hoặc béo phì. Nên ăn gạo lức, thêm khoai củ, bắp để tăng chất xơ và các chất dinh dưỡng khác.

Tránh ăn quá mặn, quá ngọt: lưu ý ở các bệnh nhân tim mạch, đái tháo đường, thận. Một số thuốc điều trị bệnh khớp có tác dụng giữ natri, mất kali hoặc các thuốc tráng dạ dày dùng kèm có tác dụng giữ natri, canxi, magiê.

Tránh dùng rượu và các chất kích thích thần kinh: các chất này thường gây co cứng cơ, giảm tác dụng của thuốc, gây bất lợi trong điều trị.

Ăn uống trong bệnh gút

Bệnh gút là loại bệnh khớp duy nhất mà chế độ ăn đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người bệnh. Nên hạn chế những thức ăn giàu purin, làm tăng acid uric trong máu, đặc biệt trong những đợt bị gút cấp tính. Các thực phẩm dễ làm tăng acid uric trong máu được chia thành 2 nhóm.

Nhóm 1: nhiều purin: gan, cật, óc, lá lách, trứng cá, cá sardine, cá trích, cá hồi, heo, nấm, măng tây, bia, sô-cô-la, cacao...

Nhóm 2: chứa purin trung bình: heo, bò, gà, vịt, hải sản, cua, tôm, đậu đỏ, cải, bó xôi, bông cải.

Nhóm 3: chứa ít purin: ngủ cốc, bơ, dầu mơ, rau quả.

Các thức uống làm tăng acid uric máu: rượu, cà phê, trà, nước uống có coca.

Người bị bệnh gút nên loại bỏ thức ăn nhóm 1, đặc biệt các đợt gút cấp tấn công, hạn chế nhóm 2. Nên ăn thịt nạc, trứng, đậu hủ, sữa giảm béo. Rượu bia 1 - 3 ly/ tuần, nên uống nhiều nước 2 - 3 lít/ngày để tăng thải acid uric theo nước tiểu.

Bệnh xương khớp là một bệnh mãn tính, với những đợt tấn công cấp tính gây đau đớn, điều trị tốn kém nhưng lại hạn chế kết quả điều trị và có khả năng gây tàn phế, giảm chất lượng sống của người bệnh. Muốn điều trị tốt cần phải kết hợp nhiều biện pháp, trong đó ăn uống hợp lý sẽ giúp cho người bệnh đủ sức chống đỡ những cơn cấp tính, phòng ngừa một số bệnh lý mãn tính, đem lại một tinh thần sảng khoái, lạc quan trong cuộc sống.

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Chế độ ăn uống và vận động không hợp lý là nguyên nhân chính gây nên bệnh gút – căn bệnh đang phổ biến ở nam giới hiện nay. Vậy lời khuyên nào cho các bệnh nhân mắc phải “căn bệnh nhà giàu” này?


Những chú ý với người mắc bệnh gút
Bệnh gút (hay còn gọi là bệnh thống phong) là một loại bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa purin trong cơ thể khi cơ thể dư thừa quá nhiều chất đạm. Bệnh thường khởi đầu bằng việc viêm và sưng đau các khớp chân tay.

Khi bệnh nặng có thể xuất hiện hàng loạt các bệnh nguy hiểm khác như: viêm khớp cấp, sỏi thận, suy thận, các bệnh tim mạch…Vì vậy, khi phát hiện ra bệnh, cần điều trị kịp thời, liên tục theo hướng dẫn của bác sỹ và phối hợp với chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.



1. Chế độ ăn uống

- Người bị bệnh gút không nên ăn các lọa thức ăn chứa nhiều chất đạm nhất là đạm động vật như: tim, gam, thận, óc, trứng vịt lộn… Nên ăn thức ăn có hàm lượng purin thấp như: trứng, sữa, pho mát tươi, bánh mì, bột ngũ cốc,rau cần, súp lơ, khoa tây, bí đỏ, đậu tương…

- Hạn chế ăn đồ ăn hải sản như: cá biển, tôm, cua, ốc, hến…

- Tuyệt đối không uống rượu, bia, đồ uống có các chất kích thích khác

- Ăn nhiều rau xanh và hoa quả.

- Uống nhiều nước, đặc biệt là các loại nước khoáng và nước uống có ga vì 2 loại nước này giúp kiềm hóa nước tiểu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dào thải lượng axít uric ra khỏi có thể.

2. Chế độ sinh hoạt

- Cần vận động thường xuyên, vừa sức. Không luyện tập quá nhiều và quá sức vì sẽ càng làm cơn đau ở các khớp chân tay trở nên trầm trọng.

- Tắm biển là liệu pháp rất tốt cho những bệnh nhân gút vì nước biển có khả năng chống lại hiện tượng cứng khớp, teo cơ.

- Tránh dầm mưa lạnh hay tắm lạnh đột ngột.

- Hạn chế căng thẳng, bực tức. Giữ tinh thần luôn thoải mái và không nên thức khuya.

- Buổi tối trước khi đi ngủ nên ngâm chân tay với nước ấm từ 20 – 30 phút. Phương pháp này giúp làm mềm và thư giãn các khớp, có thể hạn chế được các cơn đau cấp tính do bệnh gây ra, từ đó làm hạn chế biến dạng khớp.

3. Chế độ thuốc men

- Nên uống thuốc đều đặn và đúng liều lượng theo chỉ định của bác sỹ.

- Không nên lạm dụng hay tùy ý sử dụng thuốc giảm đau khi có hiện tượng sưng đau các khớp. Chỉ dùng thuốc giảm đau, kháng viêm khi có các cơn đau viêm khớp. Nên nhớ rằng: càng hạn chế dùng thuốc giảm đau càng tốt.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Biến chứng bệnh gút
Một số bệnh nhân bị Gút tiến triển đến viêm khớp mạn tính, dẫn đến biến dạng khớp, hủy hoại khớp. Lột số ít có thể bị sỏi thận hoặc nặng hơn nữa là suy thận.
 



Điều trị bệnh gút

Thuốc kháng viêm không dùng làm giảm đau, kháng viêm trong các cơn Gút cấp tính. Tuy nhiên hãy cẩn thận với các thuốc này và tham vấn ý kiến bác sĩ của bạn cụ thể cách dùng và thời gian dùng (thường chỉ nên dùng từ 3-10 ngày), vì nếu dùng để trị bệnh gút kéo dài chúng có thể gây các biến chứng như viêm loét và xuất huyết dạ dày tá tràng.

Trước bối cảnh đó, ngày càng có nhiều bệnh nhân lựa chọn nhóm sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên không gây tác dụng phụ khi sử dụng lâu dài, trong đó Hoàng Thống Phong dẫn đầu cho nhóm sản phẩm này. Hoàng Thống Phong với thành phần chính là trạch tả có tác dụng thanh nhiệt giải độc, giúp đào thải axit uric và các chất độc hại ra khỏi cơ thể, đồng thời kết hợp với các vị thuốc ba kích, nhàu, thổ phục linh, hoàng bá…giúp giảm đau, giảm sưng khớp, tăng cường chức năng gan thận, đào thải axit uric và các chất độc hại ra khỏi cơ thể, từ đó tạo nên một bài thuốc y học cổ truyền giúp dự phòng và hỗ trợ điều trị bệnh gút một cách hiệu quả sau mỗi đợt sử dụng từ 3 đến 6 tháng.

Phòng ngừa bệnh gút

Hiện chưa có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa sự khởi phát và tái phát của các cơn gút. Nếu bạn bị bệnh Gút, bác sĩ của bạn sẽ cho bạn dùng một số thuốc giúp ngăn ngừa hoặc làm giảm thiểu độ nặng của các cơn tái phát sau này. Các thuốc này gồm có Allopurinol (Zylopric) và probenecid (Benemid), dùng hàng ngày giúp giảm nồng độ và tốc độ sản xuất axit uric. Việc duy trì nồng độ axit uric ổn định ở giới hạn bình thường là cách ngăn ngừa bệnh Gút lâu dài và hiệu quả nhất.

Tự chăm sóc bản thân khi bị bệnh gút

Thay đổi lối sống không thể điều trị bệnh Gút, nhưng rất hữu ích để hỗ trợ điều trị. Các biện pháp sau giúp giảm và ngăn ngừa triệu chứng :

- Giảm béo. Duy trì cân nặng hợp lý bằng cách giảm cân từ từ giúp giảm nồng độ axit uric máu, đồng thời giảm bới sự chịu đựng sức nặng của các khớp. Không nên nhịn đói để giảm cân nhanh vì như vậy càng làm tăng axit uric máu.

- Tránh ăn quá nhiều đạm động vật. Đây là nguồn chứa nhiều purin. Các thực phẩm chứa nhiều purin như tạng động vật (gan, thận, não, lách), cá trồng, cá trích, cá thu,...các loại thịt, cá, gia cầm chứa ít purin hơn.

- Giới hạn hoặc tránh rượu. Nếu bạn đang bị bệnh Gút, tốt nhất nên tránh hoàn toàn rượu bia. Uống quá nhiều rượu làm giảm bài tiết axit uric. Giới hạn dưới hai cốc mỗi ngày nếu bạn là nam, môt cốc nếu bạn là nữ.

- Uống nhiều nước (đảm bảo khoảng 2-3 lít nước/ ngày), hoặc uống thêm nước khoáng chứa kiềm (nước sô đa).

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Nguyên nhân gây bệnh gút : Bệnh gút có nhiều nguyên nhân, trong đó nồng độ axit uric trong máu tăng cao là nguyên nhân chính. Bệnh có thể xảy ra do 1 số lý do: di truyền, chế độ ăn uống, sự bài tiết axit uric của thận.




Thói quen ăn uống

- Chế độ ăn uống chiếm khoảng 12% nguyên nhân của bệnh gút:

- Sử dụng nhiều thức uống có cồn.

- Đồ uống có hàm lượng đường cao.

- Thức ăn có chứa nhiều đạm (thịt bò, hải sản).

Gần đây các nhà khoa học nghiên cứu thấy rằng có một số thực phẩm giàu Purine mà mọi người vẫn tin là nguyên nhân của gút như: đậu hà lan, rau chân vịt, rau lăng, protein tổng hợp trong thực tế thì không có ảnh hưởng gì.

Axit uric là một sản phẩm phụ tạo ra do sự thoái giảng của Purin - có thể thấy trong tạng động vật: gan, não, thận, lách và cá trồng, cá trích, cá thu. Purin cũng có trong tất cả các loại thịt, cá và gia cầm.

Thông thường axit uric bị phân hủy trong máu và thải ra ngoài qua nước tiểu. Nhưng đôi khi cơ thể tạo quá nhiều axit uric hoặc thải axit ra quá ít. Hậu quả là axit uric trong máu tăng lên, tích lũy và lắng đọng thành những tinh thể sắc nhọn hình kim tại các khớp gây ra triệu chứng đau đớn, viêm sưng khớp.

Một số tình trạng khác, gọi là giả Gút, cũng có tình trạng lắng đọng tinh thể ở khớp nhưng không phải tinh thể axit uric mà là tinh thể calcium pyrophosphate dihydrate. Bệnh giả Gout cũng có thể gây đau khớp ngón chân cái tương tự Gout nhưng thường thì ở các khớp lớn hơn như gối, cổ tay hoặc mắt cá chân.

Yếu tố nguy cơ bệnh gút :

Những yếu tố hay hoàn cảnh sau có thể làm tăng nguy cơ bệnh Gút :

- Lối sống: thường nhất là uống nhiều cồn, đặc biệt là bia. Uống nhiều nghĩa là hơn hai cốc ở nam và một cốc ở nữ mỗi ngày. Nếu thể trọng tăng cao hơn cân nặng lý tưởng 15kg cũng làm tăng nguy cơ bệnh Gút.

- Một số bệnh lý và thuốc: một số bệnh lý và thuốc điều trị cũng có thể làm bạn tăng nguy cơ bị Gút, như tăng huyết áp, đái tháo đường, mỡ trong máu cao, hẹp lòng động mạch (do xơ vữa động mạch), phẫu thuật, các bệnh lý và tổn thương nặng, đột ngột, ít vận động,...cũng làm tăng axit uric máu. Một số thuốc như lợi tiểu thiazide (một thuốc điều trị tăng huyết áp bằng cách làm giảm lượng muối và nước trong cơ thể), aspirin liều thấp và cyclosporine (một thuốc sử dụng cho những người được ghép mô để chống thải loại mảnh ghép). Hóa trị liệu trong một số bệnh như ung thưlàm hủy diệt tế bào và phóng thích một lượng lớn purin vào máu.

- Gen di truyền. Một phần tư số bệnh nhân bị bệnh Gút có tiền sử gia đình bệnh này.

- Tuổi và giới. Nam giới có tần suất bệnh cao hơn nữ. Phụ nữ có nồng độ axit uric máu thường thấp hơn nam, nhưng đến tuổi sau mãn kinhlại tăng lên. Nam thường bị Gout trong khoảng 30-50 tuổi, còn nữ từ 50-70.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

Bệnh Gút (Gout - Thống Phong) là một bệnh lý được biết đến lâu đời nhất của loài người - đã hơn 2000 năm. Bênh Gút thường do các cơn tái phát của viêm khớp cấp tính, biểu hiện thông thường nhất là sưng tấy, đỏ ngón chân cái (50% trường hợp). Bênh gút nguyên nhân chủ yếu là do sự tích tụ axit uric ở các khớp, gân, cơ và xunh quanh các mô.






Nam giới thường mắc bệnh gút nhiều hơn phụ nữ (tới 95% nam giới có thể trạng to béo trong độ tuổi 35-45). Bệnh Gút ở nữ thường xảy ra sau mãn kinh. Đây là một bệnh chữa trị được và có nhiều cách để phòng ngừa tái phát.

Gút trong lịch sử được coi là bệnh của vua chúa hay bệnh của người giàu vì thường xuất hiện trên những người ăn uống thừa chất. Ngày nay người ta biết rõ rằng bệnh gút là một rối loạn phức tạp ảnh hưởng lên mọi người không chỉ riêng cho người giàu. Tại Việt Nam, hiện có đến hàng triệu người đang phải khổ sở vì bệnh gút.


Các dấu hiệu và triệu chứng bệnh gút :

Bệnh Gút tương đối dễ nhận biết, nếu được quan sát kỹ. Tiêu biểu nhất là việc sưng tấy, đỏ ngón chân cái

Thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp. Thường bắt đầu vào tuổi 35 đến 45. Khởi bệnh đột ngột, diễn biến từng đợt, giữa các đợt đau các khớp hoàn toàn khỏi (những năm đầu)
Vị trí bắt đầu thường là các khớp ở chi dưới, đặc biệt ngón I bàn chân (70%)

Tính chất của Bệnh Gút là bệnh nhân thấy sưng nóng đỏ đau dữ dội, đột ngột ở một khớp, không đối xứng và có thể tự khỏi sau 3 - 7 ngày. Ở giai đoạn muộn biểu hiện ở nhiều khớp, có thể đối xứng, xuất hiện những u cục (tophy) ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp. Trong giai đoạn cấp có thể kèm các dấu hiệu toàn thân như: sốt cao, lạnh run, đôi khi có dấu màng não (cổ cứng, ói...)

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Đái tháo đường có nhiều biến chứng trong đó có biến chứng ở hệ xương khớp. Đây là một trong những biến chứng gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh do những tác hại của nó đến khả năng lao động, nhu cầu sinh hoạt, cũng như về thẩm mỹ, tinh thần… Tuy nhiên, hiện nay nhiều bệnh nhân chưa thực sự được quan tâm đúng mức.


Bệnh biến chứng xương khớp tiến triển âm thầm

Bệnh đái tháo đường góp phần thúc đẩy bệnh ở hệ xương khớp xuất hiện sớm hơn, nặng hơn hoặc tiến triển nhanh hơn. Bệnh thường tiến triển âm thầm, lúc đầu người bệnh chỉ có cảm giác khó khăn khi co duỗi ngón tay cho đến khi ngón tay hoàn toàn cong gập và đau buốt. Tổn thương gây xơ hóa và co rút cũng có thể xảy ra ở bàn chân và thể hang bộ phận sinh dục nam. Mặt khác mật độ xương của bệnh nhân đái tháo đường thường thấp hơn người bình thường từ 20% – 30%. Do vậy, các bệnh lý về khớp cũng khiến cho bệnh nhân đau đớn và dễ gãy nếu chăm sóc không tốt.



Hội chứng bàn tay cứng hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường.

Biến chứng ở gân cơ

- Hội chứng ống cổ tay, ống cổ chân: Người bệnh có triệu chứng tê rần ở bàn tay hoặc bàn chân. Cảm giác tê càng tăng lên khi bệnh nhân đứng trong một số tư thế như: buông thõng tay (hay chân), gập vùng cổ tay, cổ chân trong nhiều giờ liền. Đau tăng lên khi bệnh nhân phải gấp duỗi cổ tay như cầm sách, báo, đánh máy chữ, lái xe, sử dụng dao, đũa… Ở một số trường hợp khiến cho bệnh nhân mất ngủ, bồn chồn, mệt mỏi, suy nhược. Hội chứng này gặp trong 20% bệnh nhân mắc đái tháo đường.

- Hội chứng bàn tay cứng, hay hội chứng hạn chế vận động khớp với biểu hiện da tay bị dày lên, xơ cứng gần giống như bệnh xơ cứng bì. Hạn chế vận động khớp biểu hiện bằng các ngón tay không thể gấp và duỗi hết tầm vận động bình thường, xơ hóa các bao gân duỗi và gấp ngón tay. Ở mức độ nặng hơn, bệnh nhân không thể áp sát 2 lòng bàn tay vào nhau. Hội chứng này gặp khoảng 1/3 bệnh nhân đái tháo đường týp 1.

- Hội chứng Duputren là do tình trạng xơ hóa, co rút, dày lên của cân cơ gan bàn tay với biểu hiện bằng sự co rút của ngón tay, thường gặp ở ngón đeo nhẫn nhưng có khi lan rộng sang tận ngón trỏ. Hội chứng này thường gặp ở 25% bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường.

- Hội chứng ngón tay lò xo do viêm bao gân gấp ngón tay là một biến chứng khá thường gặp. Bệnh nhân có cảm giác ngón tay như bị khóa cứng lại không thể duỗi ra bình thường được mà phải cố gắng bật mạnh ra, hoặc lấy ngón tay khác bẻ ra. Ngón tay bị co gấp như hình cò súng.

Biến chứng ở khớp và tổ chức quanh khớp

Bệnh nhân đái tháo đường cũng thường bị viêm đau các khớp, thường gặp nhất là khớp vai và bao quanh khớp vai. Trong đó có hội chứng khớp vai đông cứng hay co rút khớp vai với biểu hiện gần như hoàn toàn sự vận động của khớp vai, nhất là các động tác dạng và xoay vai. Người bệnh sẽ có triệu chứng đau nhẹ và không tương xứng khiến cho bệnh nhân hạn chế vận động. Đây là hội chứng thường gặp khoảng 20% bệnh nhân đái tháo đường. Tiếp theo là hội chứng vai tay hay hội chứng đau loạn dưỡng thần kinh phản xạ (hội chứng Sudeck) có thể gặp và thường phối hợp với hội chứng đông cứng khớp vai. Người bệnh đau lan tỏa từ trên vai lan xuống đến bàn, ngón tay, đau rất nhiều kèm theo rối loạn vận mạch (tay sưng phù, da đỏ, tím…) và thiểu dưỡng cơ, teo cơ nếu ở giai đoạn muộn. Ngoài ra, viêm điểm bám gân vôi hóa cũng hay gặp, tỷ lệ bệnh gấp 3 lần người bình thường không mắc đái tháo đường với biểu hiện bằng đau vai rất đột ngột, dữ dội, hạn chế vận động khớp nhiều.

Về phòng bệnh biến chứng xương khớp

Do đái tháo đường là căn bệnh mạn tính, không thể điều trị khỏi hoàn toàn nên người bệnh phải sống chung. Muốn giảm thiểu biến chứng, người bệnh phải tuân thủ quá trình điều trị phù hợp với điều kiện của bản thân. Theo dõi và kiểm soát đường huyết ở ngưỡng tối ưu nhất thông qua chế độ ăn uống cân bằng và khoa học.

Bệnh nhân cần duy trì cuộc sống vận động, tập luyện để kiểm soát đường huyết và cân nặng hợp lý nhất.

Thường xuyên kiểm tra sức khỏe để tầm soát bệnh và phát hiện sớm những biến chứng sớm nhất. Khi có các triệu chứng như sưng, đau, mất cảm giác hay tê bì, thay đổi màu da bất thường, có vết thương bàn chân, giảm hoặc mất khả năng cử động một chi cần đến bác sĩ để có hướng điều trị thích hợp.
Cần từ bỏ các thói quen có hại trong ăn uống, sinh hoạt, lối sống như: ăn đồ ngọt, làm quá sức hoặc quá lười, vệ sinh kém, uống rượu, hút thuốc…

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Người bệnh viêm khớp dạng thấp nên có một chế độ ăn hợp lý để giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp và độ rắn chắc của xương, hỗ trợ tốt hơn cho các khớp, nhất là khi thời tiết thay đổi. Việc áp dụng chế độ ăn kiêng chỉ dẫn đến sự thiếu hụt dinh dưỡng, suy giảm sức khỏe.




Viêm khớp dạng thấp thường đi kèm các đợt viêm (bệnh nhân bị sốt, khớp bị sưng đau). Điều này làm tiêu hao năng lượng và gây chán ăn, khiến người bệnh dễ bị thiếu dinh dưỡng. Người bị viêm khớp dạng thấp nên có một chế độ ăn uống hợp lý để tích lũy các chất dinh dưỡng.

Bệnh viêm khớp dạng thấp rất khó chữa khỏi. Trong đa số trường hợp, thuốc men chỉ tạm thời đẩy lui bệnh. Nhiều người vẫn truyền nhau các phương pháp như nhịn đói trị bệnh, loại bỏ những thức ăn gây đau đớn, chọn ăn những thực phẩm đặc biệt… Tuy nhiên cho đến nay,khoa học vẫn chưa chứng minh được hiệu quả của những biện pháp này.

Hàm lượng khuyến cáo với từng thành phần dinh dưỡng là:

Bệnh nhân khớp nên ăn nhiều rau trái nên dùng trên 300g rau và 200g hoa quả mỗi ngày. Chất xơ trong rau trái giúp giảm cholesterol máu, tránh táo bón (vốn là tình trạng thường gặp ở người bệnh viêm khớp).

Nên tăng cường bổ sung chất đạm: Dùng 50g thịt, 100g đậu đỗ mỗi ngày. Có thể ăn 3-4 quả trứng/tuần (người có cholesterol máu cao cần giảm xuống 1-2 quả /tuần). Các loại thực phẩm giàu chất đạm như thịt cá, trứng, sữa, ngêu sò, tào phớ và đậu các loại… đều có lợi cho sức khỏe. Chú ý chỉ ăn thịt nạc bỏ da, không ăn phủ tạng. Nên thay bớt đạm động vật bằng đạm thực vật. Cần tăng cường uống sữa vì đây là nguồn cung cấp canxi quan trọng, rất tốt cho người viêm khớp.

Chất béo: Không nên dùng quá 20 g dầu thực vật mỗi ngày. Nên sử dụng dầu lạc, dầu vừng…

Tinh bột: Ăn đầy đủ các thức ăn giàu chất bột như cơm, mì, khoai củ để không bị thiếu dinh dưỡng.

Muối, đường: Không nên ăn thực phẩm quá mặn hoặc quá nhạt. Cần hạn chế lượng muối ở mức không quá 10 g/ngày và đường ở mức 20 g/ngày.

Người bệnh khớp dạng thấp thường thấy mệt mỏi, cứng các khớp xương vào buổi sáng. Vì vậy, họ cần ăn điểm tâm đầy đủ để tăng thêm sức lực. Ngoài 3 bữa chính, nên ăn thêm 2-3 bữa phụ với thực phẩm giàu năng lượng. Thức ăn càng đa dạng càng tốt cho người bệnh viêm khớp dạng thấp

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Những nguy cơ dẫn đến bệnh viêm khớp dạng thấp Theo các bác sĩ của phòng khám đa khoa Năm Châu cho biết  cuộc sống ngày càng thay đổi, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến xương khớp,ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống,  có một số yếu tố chính có thể làm tăng nguy cơ viêm khớp dạng thấp bao gồm:





Bạn quan hệ tình dục: Phụ nữ có nhiều khả năng phát triển viêm khớp dạng thấp hơn nam giới.

Tuổi: Viêm khớp dạng thấp có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nó phổ biến nhất bắt đầu trong độ tuổi từ 40 và 60.

Lịch sử gia đình: Nếu một thành viên của gia đình bạn có viêm khớp dạng thấp, bạn có thể có nguy cơ cao của bệnh.

Hút thuốc: Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ viêm khớp dạng thấp ở một số người. Bỏ thuốc có thể làm giảm nguy cơ của bạn.


Viêm khớp dạng thấp là một bệnh hệ thống, viêm của nó có thể ảnh hưởng đến các cơ quan và các khu vực khác của cơ thể hơn các khớp. Viêm tuyến của mắt và miệng có thể gây ra khô của các khu vực này và được gọi là hội chứng Sjogren . Khô mắt có thể dẫn đến mài mòn giác mạc. Viêm các phần trắng của mắt (các củng mạc) được gọi là scleritis và có thể rất nguy hiểm cho mắt.

Viêm khớp dạng thấp của niêm mạc phổi (viêm màng phổi) gây ra đau ngực với hơi thở sâu, khó thở , hoặc ho . Mô phổi chính cũng có thể bị viêm, sẹo, và đôi khi các nốt viêm (các nốt dạng thấp) phát triển trong phổi.

Viêm mô (màng ngoài tim) xung quanh trung tâm, được gọi là viêm màng ngoài tim , có thể gây ra đau ngực mà thường thay đổi cường độ khi nằm xuống hoặc nghiêng về phía trước. Viêm khớp dạng thấp có liên quan với sự gia tăng nguy cơ đau tim . Bệnh khớp dạng thấp có thể làm giảm số lượng tế bào hồng cầu ( thiếu máu ) và các tế bào máu trắng. Bạch cầu giảm có thể được liên kết với một lá lách mở rộng (gọi tắt là hội chứng Felty của ) và có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Nguy cơ của tuyến bạch huyết ung thư ( lymphoma ) cao hơn ở những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, đặc biệt là ở những người duy trì tình trạng viêm khớp hoạt động.

Cục u dưới da ( nốt khớp dạng thấp ) có thể xảy ra xung quanh khuỷu tay và các ngón tay, nơi có áp lực thường xuyên. Mặc dù các nốt thường không gây triệu chứng, đôi khi họ có thể bị nhiễm trùng. Dây thần kinh có thể trở nên bị chèn ép ở cổ tay gây ra hội chứng ống cổ tay .

Viêm mạch máu: Một biến chứng hiếm gặp, biến chứng nghiêm trọng, thường là với bệnh khớp dạng thấp có từ lâu đời, là tình trạng viêm mạch máu ( viêm mạch ). Viêm mạch có thể làm giảm nguồn cung cấp máu đến các mô và dẫn đến tử vong mô ( hoại tử ). Điều này thường được ban đầu có thể nhìn thấy như các vùng nhỏ màu đen xung quanh các móng chân, tay hoặc như loét chân .

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Từ viêm khớp dạng thấp là một bệnh hệ thống, viêm của nó có thể ảnh hưởng đến các cơ quan và các khu vực khác của cơ thể hơn các khớp. Viêm tuyến của mắt và miệng có thể gây ra khô của các khu vực này và được gọi là hội chứng Sjogren . Khô mắt có thể dẫn đến mài mòn giác mạc. Viêm các phần trắng của mắt (các củng mạc) được gọi là scleritis và có thể rất nguy hiểm cho mắt.

  



Viêm khớp dạng thấp của niêm mạc phổi (viêm màng phổi) gây ra đau ngực với hơi thở sâu, khó thở , hoặc ho . Mô phổi chính cũng có thể bị viêm, sẹo, và đôi khi các nốt viêm (các nốt dạng thấp) phát triển trong phổi.


Viêm mô (màng ngoài tim) xung quanh trung tâm, được gọi là viêm màng ngoài tim , có thể gây ra đau ngực mà thường thay đổi cường độ khi nằm xuống hoặc nghiêng về phía trước. Viêm khớp dạng thấp có liên quan với sự gia tăng nguy cơ đau tim . Bệnh khớp dạng thấp có thể làm giảm số lượng tế bào hồng cầu ( thiếu máu ) và các tế bào máu trắng. Bạch cầu giảm có thể được liên kết với một lá lách mở rộng (gọi tắt là hội chứng Felty của ) và có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Nguy cơ của tuyến bạch huyết ung thư ( lymphoma ) cao hơn ở những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, đặc biệt là ở những người duy trì tình trạng viêm khớp hoạt động.


Cục u dưới da ( nốt khớp dạng thấp ) có thể xảy ra xung quanh khuỷu tay và các ngón tay, nơi có áp lực thường xuyên. Mặc dù các nốt thường không gây triệu chứng, đôi khi họ có thể bị nhiễm trùng. Dây thần kinh có thể trở nên bị chèn ép ở cổ tay gây ra hội chứng ống cổ tay .


Một biến chứng viêm khớp dạng thấp hiếm gặp, biến chứng nghiêm trọng, thường là với bệnh khớp dạng thấp có từ lâu đời, là tình trạng viêm mạch máu ( viêm mạch ). Viêm mạch có thể làm giảm nguồn cung cấp máu đến các mô và dẫn đến tử vong mô ( hoại tử ). Điều này thường được ban đầu có thể nhìn thấy như các vùng nhỏ màu đen xung quanh các móng chân, tay hoặc như loét chân


Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -