Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

TBKTSG Online) - Từ Úc, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, Viện Nghiên cứu y khoa Garvan (Sydney, Úc) đã trả lời giao lưu trực tuyến với chủ đề "Hiểu đúng và phòng ngừa bệnh loãng xương" do TBKTSG Online tổ chức. Dưới đây là nội dung buổi giao lưu:


Ngọc Ánh: Thưa giáo sư, tôi đã đi kiểm tra và không bị loãng xương, nhưng tôi sắp bước vào tuổi mãn kinh. Xin tư vấn cho tôi về những phương pháp tập luyện, sinh hoạt, ăn uống... để tôi có thể tránh khỏi nguy cơ loãng xương?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Ở độ tuổi của bạn, cứ 10 người thì có 2 người bị loãng xương. Do đó, khó nói ai sẽ bị và ai sẽ không bị loãng xương; chúng ta chỉ có thể nói "nguy cơ" cao hay thấp mà thôi. Nguy cơ cao tùy thuộc vào yếu tố nguy cơ mà bạn có, chẳng hạn như thiếu canxi, từng có tiền sử bị gãy xương, mẹ hay chị/em của bạn gãy xương, trọng lượng thấp, chiều cao suy giảm, v.v...
Do đó, những gì bạn có thể làm được để giảm nguy cơ mắc bệnh là duy trì một chế độ ăn uống lành mạnh (đủ canxi và chất đạm), thường xuyên tập thể dục (rất quan trọng), bỏ hút thuốc lá (nếu đang hút), tránh rượu bia, và duy trì trọng lượng ở mức vừa phải.
Nhiều người nghĩ rằng xương là một mô cố định, nhưng suy nghĩ này không đúng. Xương là một mô năng động, hiểu theo nghĩa các tế bào trong xương liên tục làm việc trong suốt quãng đời sống của chúng ta.
Cho nên phòng chống loãng xương và gãy xương là một việc làm lâu dài.  Ở bất cứ độ tuổi nào cũng có thể áp dụng các biện pháp như vừa kể.
Le Tu: Tôi bị loãng xương cần phải uống sữa, tuy nhiên tôi lại không thể uống được sữa do tiêu hóa kém. Xin bác sĩ tư vấn giúp tôi cần chế độ dinh dưỡng thế nào và tôi có nên giảm cường độ vận động không? Tôi không biết đi xe nên thường xuyên đi bộ.
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo tôi biết ở trong nước có nhiều trường hợp tin là "loãng xương", nhưng lại dựa vào kết quả siêu âm hay các phương pháp khác vốn không phải sử dụng cho chẩn đoán loãng xương. Vì thế, có lẽ câu hỏi là bạn đã đi đo mật độ xương chưa, và nếu đã làm thì kết quả ra sao. 
Có nhiều người châu Á chúng ta không uống được sữa [bò] tươi, nhưng có thể uống sữa đậu nành, và sữa đậu nành cũng là một nguồn canxi. Một ly sữa đậu nành chứa khoảng 175 mg canxi (còn 1 ly sữa bò chứa khoảng 270 mg canxi).
TT. Duy: Tôi nghe nói bệnh này chỉ có khi người ta về già là nhiều. Tôi thường bị đau nhức ở xương cột sống, vai (dù tôi còn rất trẻ), vậy tôi có bị bệnh loãng xương không?

Ông Nguyễn Văn Tuấn là giáo sư y khoa thuộc Đại học New South Wales, Sydney, Úc, và là chuyên gia cấp cao và trưởng nhóm nghiên cứu về loãng xương và di truyền thuộc Viện nghiên cứu Garvan, Úc. Lĩnh vực nghiên cứu chính của ông là di truyền học dịch tễ học, và các yếu tố nguy cơ gãy xương.
Ông là tác giả của hơn 170 công trình nghiên cứu y khoa liên quan đến loãng xương và nội tiết học trên các tập san danh tiếng trên thế giới Nature, Science, New England Journal of Medicine, JAMA, Annals of Internal Medicine, Osteoporosis International… Nhóm của ông chính là nhóm phát hiện gien loãng xương đầu tiên trên thế giới, và đã phát triển các phương pháp chẩn đoán và tiên lượng gãy xương đã được giới y khoa toàn thế giới sử dụng qua trang web www.fractureriskcalculator.com.
Ông còn là tác giả của 6 cuốn sách đã phát hành ở Việt Nam, trong đó có cuốn “Loãng xương” được xem là sách đầu tiên ở Việt Nam chuyên viết về bệnh này.
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Đúng là loãng xương thường hay xảy ra ở người cao tuổi (chúng ta không nên nói "người già"). Nhưng loãng xương cũng xảy ra ở những người trong độ tuổi trung niên, dù tần số xảy ra thì thấp. Có rất nhiều lý do để đau nhức xương sống và vai (chính tôi cũng bị) nhưng mật độ xương vẫn bình thường. Nếu bạn quá quan tâm thì có thể đo mật độ xương sống và nhớ hỏi đo luôn độ biến dạng cột sống. 
Le Tu: Thưa bác sĩ, gần đây tôi thường đau phía sau gáy và vai, đầu gối trái cũng đau, nhất là khi bước lên cầu thang tôi phải trụ bằng chân phải. Những triệu chứng này có liên quan đến loãng xương không? Tôi thường xuyên đi bộ mỗi ngày từ 5-7km như vậy có ảnh hưởng gì đến khớp xương không? Tôi có nên vận động như bình thường không hay cần giảm cường độ vận động.
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Những triệu chứng bạn vừa mô tả có lẽ liên quan đến cơ bắp hơn là xương. Tuy nhiên, vì cơ bắp yếu (có thể do thiếu vitamin D) dẫn đến nguy cơ dễ bị té ngã, và khi té ngã nếu xương mình không đủ mạnh để chống trả thì rất dễ bị gãy xương; cho nên bạn cũng cần đi xét nghiệm mật độ xương để biết xương mình đang ở trong tình trạng nào. Mỗi ngày mà bạn đi được 5-7 km là quá tốt rồi!  Tôi nghĩ bạn nên vận động bình thường.
Le Tu: Tôi có bạn khuyên từ 40 tuổi trở lên nên uống loại thuốc có chứa sụn cá mập để giúp tạo chất nhờn cho khớp xương. Xin bác sĩ cho biết uống loại thuốc như trên lâu ngày có hại gì không? Liệu loại thuốc này có chứa thủy ngân không?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo kết quả nghiên cứu lâm sàng bên Mỹ và Âu châu thì glucosamine không có ảnh hưởng phụ gì đáng kể so với người không dùng glucosamine. Về thủy ngân trong glucosamine thì tôi không biết, nhưng tôi thấy báo chí phương Tây có cảnh báo rằng một số (nhấn mạnh: một số) glucosamine do Trung Quốc sản xuất có hàm lượng thủy ngân cao.
Tran The Dang Khoa: Con gái tôi 20 tuổi và con trai 26 tuổi, cứ vài tháng tôi cho các cháu uống vitamine D 500 và dầu cá khoảng 1-2 tuần thì có cần thiết hay không?
Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn: Duy trì vitamin D đầy đủ chẳng những có lợi ích cho xương mà còn cho các cơ phận khác. Chỉ bổ sung vitamin D khi thiếu. Để biết thiếu hay đủ vitamin D thì cần phải có xét nghiệm để đo vitamin D trong máu.
Tran The Dang Khoa: Mẹ tôi đã mãn kinh được 2 năm, thường bị nhức mỏi tay chân và các khớp. Đã đo loãng xương ở bàn tay thì kết quả bình thường. Xin bác sĩ cho biết đo loãng xương ở cổ tay có thể cho biết tình trạng của toàn cơ thể không? Ngoài việc ăn uống thì mẹ tôi có nên sử dụng thuốc gì không?
<a href='http://ads.thesaigontimes.vn/www/delivery/ck.php?n=a22264ba&cb=INSERT_RANDOM_NUMBER_HERE' target='_blank'><img src='http://ads.thesaigontimes.vn/www/delivery/avw.php?zoneid=10&cb=INSERT_RANDOM_NUMBER_HERE&n=a22264ba' border='0' alt='' /></a>
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Hiện nay, phương pháp chuẩn để chẩn đoán loãng xương là đo mật độ xương bằng máy DXA (dual energy X-ray absorptiometry). Rất nhiều trường hợp xương cổ tay bình thường nhưng xương cột sống và cổ xương đùi suy giảm. Do đó, chẩn đoán loãng xương không dựa vào kết quả đo xương ở cổ tay. Sử dụng thuốc là liệu pháp [gần] sau cùng; biện pháp tốt nhất và có lẽ an toàn nhất là phòng ngừa: chế độ ăn uống giàu canxi và đạm; duy trì lối sống lành mạnh; và thường xuyên vận động, tập thể dục.
Lan Chi: Biểu hiện lâm sàng của bệnh loãng xương ra sao?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Như có đề cập trong một câu trả lời trước (bên dưới), loãng xương thường diễn ra một cách âm thầm mà không có triệu chứng lâm sàng nào. Tuy nhiên, một trong những triệu chứng lâm sàng cần chú ý là giảm chiều cao và giảm cân nặng. Bệnh nhân tăng năng tuyến cận giáp (hyperparathyroidism) hay giảm năng tuyến cận giáp (hypoparathyroidism) cũng cần quan tâm. Những người sử dụng corticosteroid ở liều lượng cao và trong thời gian dài cũng cần nên được đo mật độ xương để theo dõi sức khỏe xương.
Kim Lan: Tôi là nam, 55 tuổi, làm nhân viên văn phòng nên thường xuyên ngồi trước máy vi tính; hai bả vai thường rất mỏi, có khi đau đớn, cử động khó khăn. Xin hỏi đó có phải là triệu chứng của bệnh loãng xương hay không?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Những triệu chứng như bạn mô tả không phải là yếu tố nguy cơ của loãng xương. Có thể là vấn đề cơ bắp, chứ không phải xương.
Huynh Vu - Thưa giáo sư, ở lứa tuổi nào phụ nữ cần chú ý đến vấn đề loãng xương?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Vì loãng xương và gãy xương thường xảy ra ở phụ nữ sau mãn kinh, và tuổi mãn kinh trung bình là 50; do đó, phụ nữ trên 50 tuổi cần quan tâm đến loãng xương.
Phan Thanh Ngoc: Hiện nay, tỷ lệ người mắc bệnh loãng xương trên thế giới là bao nhiêu? Thường tập trung ở nam hay nữ và ở độ tuổi nào?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Ở người Âu Mỹ, cứ 10 phụ nữ trên 50 tuổi thì có 2 người bị loãng xương. Ở nam giới, tỷ lệ loãng xương ở người trên 50 tuổi khoảng 10% (tức chỉ bằng phân nửa so với nữ).
Ở Việt Nam ta, theo nghiên cứu của chúng tôi hợp tác với Đại học Y Phạm Ngọc Thạch thì tỷ lệ loãng xương ở nữ trên 50 tuổi là 17% (tức tương đương với người Âu Mỹ). Còn ở nam giới chúng tôi không biết vì chưa có nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm hơn là gãy xương, vì gãy xương làm giảm chất lượng cuộc sống và tăng nguy cơ tử vong. Biện pháp phòng ngừa ở quy mô cộng đồng là nhắm đến giảm gãy xương.
Thiên Thanh: Xin bác sĩ cho biết triệu chứng của bệnh loãng xương, cách phòng bệnh và nếu bị bệnh thì cần điều trị ra sao ?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Loãng xương thường được ví von là một "căn bệnh thầm lặng", hiểu theo nghĩa diễn tiến của bệnh xảy ra một cách âm thầm, không có triệu chứng, cho đến khi bệnh nhân bị gãy xương. Chẳng hạn như thân mẫu của Nữ hoàng Anh chỉ bước xuống một bậc thang và bị té và gãy cổ xương đùi, và khi xét nghiệm mới biết là bị loãng xương dù không có triệu chứng gì trước đó. 
Tuy nhiên, một số "tín hiệu" của loãng xương là:
(a) giảm chiều cao (so với khi còn trong độ tuổi 20-30);
(b) trọng lượng quá thấp (dưới 40 kg) hay mất trọng lượng nhanh;
(c) cơ bắp bị yếu và hay bị té ngã
Nếu có một trong những tín hiệu này, bạn cần nên đi đo mật độ xương để có chẩn đoán chính xác hơn. Các yếu tố nguy cơ loãng xương thì có nhiều nhưng tựu trung lại là:
(a) thiếu estrogen (kích thích tố nữ) hay thiếu androgen (nam)
(b) thiếu canxi
(c) bia rượu thái quá
(d) có tiền sử gãy xương
(e) suy yếu thị lực
(f) hay bị té ngã
Nếu bạn trên 65 tuổi và có một trong những yếu tố trên thì nên đi đo mật độ xương.
Lan Chi: Để phòng chống bệnh loãng xương, chúng ta cần có chế độ ăn uống ra sao?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Đây là một câu hỏi lớn để có thể trả lời qua vài phút. Tuy nhiên, các biện pháp phòng chống bệnh loãng xương có thể tóm lược như sau: Một là điều chỉnh chế độ ăn uống sao cho cân đối, như có đủ canxi (khoảng 1.000 mg mỗi ngày) và đủ đạm (protein, kể cả đạm thực vật). Hai là thường xuyên tập thể dục (như Tai-chi, yoga, bơi lội, đi bộ buổi sáng và chiều), nhưng đừng tập như lực sĩ!  Ba là cố gắng duy trì một lối sống lành mạnh như bỏ thuốc lá (nếu đang hút) và rượu bia ở mức vừa phải. 
dang hai ly: Thưa giáo sư, tôi bị loãng xương, đã uống Foravance loại 70mg/2800UI hơn sáu tháng, và vừa ngưng được hơn 1 tháng. tuy nhiên, cơ thể tôi hấp thụ canxi kém do trước đây có dùng cortisoid. Tôi không thể ăn tôm, cua vì vỏ tôm, cua có nhiều can-xi. Nếu ăn sẽ bị đau bụng liền và đau dữ dội. Xin hỏi bác sĩ có cách nào để chữa trị nữa không?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Corticosteroid có thể ảnh hưởng đến khả năng hấp thu canxi, nhưng hấp thu canxi thấp không có nghĩa là sẽ dẫn đến đau bụng.  Có lẽ bạn nói đến Fosavance (chứ không phải Foravance). 
Fosavance (tức Fosamax thêm vitamin D) là một loại thuốc chống hủy xương và có hiệu quả giảm nguy cơ gãy xương. Tuy nhiên, một trong những phản ứng của thuốc là đau bụng (khoảng 10-15% bệnh nhân dùng thuốc). Do đó tôi nghĩ đau bụng có lẽ không phải do sử dụng corticosteroid mà do uống Fosavance. Nhưng bạn đã uống thuốc đúng như bác sĩ dặn chưa (tức phải uống kèm theo nhiều nước, và ngồi ở tư thế thẳng lưng ít nhất 30 phút). Nếu đau bụng dữ dội thì bạn nên tạm ngưng uống thuốc và tham vấn bác sĩ. 
Hiện nay, có nhiều thuốc điều trị loãng xương trên thị trường. Bạn cần phải hỏi bác sĩ mình để biết thêm chi tiết và lựa chọn thích hợp.
Le Bao Khanh: Khi tôi còn nhỏ có bị gãy xương đòn gánh (trên vai trái) và cho đến nay khi kê vật gì vào vai để khiêng đi thì cảm thấy đau và yếu hơn hẳn vai phải. Xin hỏi có phải do bị gãy xương từ trước nên dễ bị chứng loãng xương hơn không?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Đây là vấn đề chấn thương, có thể di lệch xương, làm tổn thương đến dây thần kinh cảm giác tại chỗ, chứ có thể không dính dáng gì đến loãng xương. Ở nam và nữ, tiền sử gãy xương sau tuổi 50 là một yếu tố nguy cơ gãy xương lần thứ hai.
Trần Hoàng Long: Theo giáo sư thì nguồn canxi có thể tiếp thu qua rau cải, đậu nành... nhưng căn bệnh gout của tôi được các thầy thuốc khuyên phải kiêng ăn hầu hết các loại đậu, kiêng rau muống, rau cải xanh, các loại nấm... Về động vật thì chỉ được ăn thịt heo nạc và cá đồng; kiêng tất cả hải sản. Vậy tôi có thể bổ sung can xi bằng cách nào đây?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Trong trường hợp của bạn, có lẽ bổ sung canxi (viên canxi có bán trên thị trường) là một lựa chọn thích hợp. Chưa có bằng chứng nào chống chỉ định sử dụng canxi ở bệnh nhân gout.
Vu Huynh: Trên các phương tiện truyền thông, nhiều hãng sữa đã khuyến cáo mọi người nên uống sữa để ngăn ngừa loãng xương. Mẹ tôi không uống được sữa, lại bị dị ứng với một số loại hải sản, vậy có những nhóm thực phẩm nào mẹ tôi có thể sử dụng để ngăn ngừa bệnh này?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Có nhiều nguồn canxi, như rau cải xanh (kể cả rau muống), xúp-lơ xanh (broccoli), cải bó xôi, sữa đậu nành, v.v... Tất cả các nguồn này đều có thể cung cấp một lượng canxi cần thiết tối thiểu. Nếu vẫn quan tâm thì có thể sử dụng loại bổ sung canxi vốn có bán trên thị trường.
Tran The Dang Khoa: Chị tôi 53 tuổi, khi cử động khớp cổ tay, đầu gối, cổ chân đều kêu "lụp cụp"..., xin bác sĩ cho biết có nguy cơ bị loãng xương hay không và điều trị như thế nào?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Loãng xương liên quan đến chất khoáng trong xương; còn triệu chứng mà bạn mô tả không nằm trong các khía cạnh của loãng xương. Tuy nhiên, bạn có thể tham vấn bác sĩ chuyên khoa khớp để theo dõi và điều tra thêm.
Hồng Anh: Thưa bác sĩ, tôi nghe nói nhiều người vì sợ bị loãng xương nên tích cực uống sữa, uống thuốc bổ sung canxi và ăn hải sản sẽ dẫn đến thừa canxi và vôi hóa cột sống. Điều này có đúng không?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Nếu hấp thu quá nhiều canxi (trên 1.500 mg/ngày) thì cũng không phải là biện pháp phòng bệnh tốt vì có thể tăng nguy cơ bị sỏi thận. Do đó, bạn cần phải tham vấn bác sĩ chuyên khoa để cân nhắc liều lượng cần thiết và thời gian sử dụng. Tùy theo độ tuổi, liều lượng canxi cần thiết mỗi ngày là 1.000 đến 12.000 mg.
Kim Lan: Kính chào giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, Tôi năm nay 52 tuổi, bị bệnh thấp khớp, phải thường xuyên dùng thuốc glucosamine. Xin giáo sư cho biết, có mối liên hệ nào giữa bệnh khớp và bệnh loãng xương hay không? Tôi có nên vừa uống thuốc trị khớp vừa uống bổ sung can-xi hay không?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Loãng xương thường hay bị lầm lẫn với thấp khớp, nhưng hai bệnh này khác nhau về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, biện pháp phòng ngừa thì giống nhau: tập thể dục. Một số người mắc bệnh thấp khớp thường có mật độ xương thấp, nhưng không hẳn là loãng xương.  Nếu liều lượng canxi hấp thu thấp (như dưới 300 mg/ngày) thì có lẽ bạn cũng nên xem xét việc bổ sung canxi. Nên bàn luận với bác sĩ gia đình trước khi quyết định.
Trần Hoàng Long: Tôi bị bệnh gout, theo lời dặn của các thầy thuốc tôi phải kiêng cữ rất nhiều thực phẩm có nhiều đạm. Nhưng trong đó cũng có những thứ cung cấp can xi cho cơ thể. Liệu sự kiêng cữ này có thể khiến tôi dễ mắc chứng loãng xương không?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Anh/chị có thể nói cụ thể hơn là kiêng cữ thực phẩm gì không? Xương là một mô được cấu trúc với rất nhiều chất, kể cả canxi, collagen (chất keo), và phosphate. Có nhiều người canxi không cao nhưng vẫn không bị loãng xương.
Dương Thanh: Mẹ tôi năm nay 67 tuổi, bị bệnh sỏi thận nên không thể ăn thức ăn giàu canxi hay uống sữa nhưng lưng cụ bị còng hay đau nhức, đi lại khó khăn. Vậy mẹ tôi có bị loãng xương hay không, và trường hợp của mẹ tôi phải bổ sung canxi cho xương thế nào?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Chẩn đoán loãng xương ở người bị sỏi thận tương đối khó, vì phải xem xét đến các marker (dấu ấn) về chu chuyển xương. Tuy nhiên, việc đầu tiên có lẽ là bác nên đi đo mật độ xương để biết chỉ số T là bao nhiêu, rồi sau đó sẽ xem xét tiếp về việc bổ sung canxi (điều này phải cẩn thận vì bà cụ bị sỏi thận). Như tôi nói ở một câu hỏi trước (bên dưới), đau lưng và nhức mỏi lưng không hẳn là bị loãng xương.  Nhưng nếu chiều cao bị giảm so với thời trong độ tuổi 20-30 thì đó là triệu chứng xương đốt sống có thể bị biến dạng hay gãy và cần được điều trị.
Le Bao Khanh: Những bữa ăn trong ngày tôi rất ít dùng hải sản- nhất là các loại cá (vì không chịu được mùi tanh), tôi cũng ít dùng thịt động vật. Vậy tôi có bị chứng loãng xương không? Nếu bị thì tôi phải ăn bổ sung thực phẩm gì?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Để biết bị loãng xương hay không, cách hay nhất là đo mật độ xương (bone mineral density) bằng máy DXA. Nhiều người ăn chay (tức không ăn thịt và cá) nhưng xương chẳng có ảnh hưởng gì đáng kể. Nguồn canxi có thể tiếp thu qua rau cải, đậu nành, hay nói chung là thực vật, chứ không phải chỉ qua động vật. 
Lan Chi: Bệnh loãng xương và bệnh xương thủy tinh có liên quan với nhau hay không?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Xương thủy tinh (osteogenesis imperfecta) và loãng xương - osteoporosis (osteos tiếng Hy Lạp là xương, poros là loãng) là hai bệnh khác nhau. Bệnh xương thủy tinh do di truyền gây ra, với đặc điểm là các chất keo (collagen) không liên kết được, làm xương bị biến dạng, gãy xương, v.v...
Loãng xương là bệnh khi mật độ xương suy giảm và dẫn đến dễ bị gãy xương. Loãng xương hay xảy ra ở người cao tuổi (khá phổ biến), còn xương thủy tinh có thể xảy ra ở người trẻ tuổi (hiếm).
Khâu Tuyết Nga: Thưa giáo sư, có nhất thiết phải uống sữa có canxi mới chống được bệnh loãng xương hay không? Vậy sữa bình thường chẳng lẽ không có canxi hay sao?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Tác dụng của canxi đến xương là một đề tài vẫn còn trong vòng tranh cãi. Ở tuổi mới lớn hay đang trưởng thành thì ai cũng đồng ý canxi rất cần thiết (khoảng 1.000 mg/ngày) để xương có thể phát triển đúng với tiềm năng của các yếu tố di truyền. 
Còn ở độ tuổi trên 50 hay trên 60, ảnh hưởng của canxi chưa mấy rõ ràng, có lẽ một phần do sự hấp thu canxi rất khác biệt giữa các cá nhân.  Độ hấp thu canxi tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có vitamin D. Khi cơ thể chúng ta có vitamin đầy đủ thì canxi được hấp thu tốt; nhưng nếu vitamin D thiếu thì canxi không được hấp thu tốt.
Rất tiếc là khoảng 45% người Á châu tuy sống vùng nhiệt đới nhưng lại thiếu vitamin D! Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu cho thấy bổ sung canxi có thể giảm nguy cơ gãy xương khoảng 20%. 
Mai Nguyễn: Bệnh loãng xương có xảy ra ở người trẻ tuổi hay không. Tôi chưa tới 30 tuổi nhưng thường hay bị đau và mỏi lưng, liệu đây có phải là triệu chứng của bệnh loãng xương không? Làm sao tôi có thể biết được là mình đã cung cấp đủ canxi trong ngày?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Loãng xương có thể xảy ra ở người trẻ tuổi, nhưng rất hiếm. Đau lưng hay mỏi lưng không hẳn là triệu chứng của loãng xương. Thông thường ở độ tuổi 30, liều lượng canxi cần thiết mỗi ngày là khoảng 1.000 mg đến 1.200 mg. Sữa chứa nhiều canxi. Để so sánh, bạn có thể ước tính một ly sữa chứa khoảng 270 mg canxi.
Mai Thư: Xin ông cho biết, một khi đã bị bệnh loãng xương thì có còn tập thể dục hoặc chơi thể thao được không? Nếu được thì tập hoặc chơi như thế nào là phù hợp?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Thứ nhất là vấn đề "loãng xương".  Bạn phải chắc chắn rằng mình bị loãng xương, tức có đo lường mật độ xương bằng máy DXA thì mới chính xác được; còn đo bằng siêu âm thì không chính xác. 
Người bị loãng xương vẫn tập thể dục và chơi thể thao bình thường, nhưng cường độ thì chỉ trung bình.  Chúng tôi thường khuyến cáo đi bộ (không phải chạy đua) khoảng 30 phút mỗi ngày, bơi lội, thậm chí ... nhảy đầm cũng là những biện pháp thực tế mà hữu hiệu phòng chống loãng xương.
Lan Chi: Hiện nay, tỷ lệ người mắc bệnh loãng xương ở Việt Nam là bao nhiêu? Thường tập trung ở nam hay nữ và ở độ tuổi nào?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Nghiên cứu về loãng xương ở Việt Nam còn rất ít, nên cũng khó trả lời chính xác câu hỏi này.  Tuy nhiên, vài công trình mới đây mà tôi có tham gia ở Hà Nội và TPHCM thì ở phụ nữ trên 50 tuổi, cứ 5 người có 1 người bị loãng xương.  Ở người Âu Mỹ, 2/3 ca loãng xương xảy ra ở nữ, và 1/3 là nam.  Loãng xương thường hay thấy ở nữ trên 50 tuổi (tức sau mãn kinh), và ở nam trên 60 tuổi.
Tòa soạn xin chân thành cảm ơn bạn đọc và giáo sư Nguyễn Văn Tuấn đã tham gia giao lưu trực tuyến. Xin hẹn bạn đọc vào buổi giao lưu trực tuyến lần sau, trong một chủ đề thú vị khác.

Nghiên cứu mới đây tại Bệnh viện của Trường đại học Skane (Thụy Điển) cho thấy phụ nữ mãn kinh sớm thì nguy cơ bị loãng xương tăng gấp 2 lần sau này.


Nghiên cứu đã chọn 390 phụ nữ độ tuổi 48 ở Bắc Âu trong năm 1977. Các nhà nghiên cứu đã chia họ ra 2 nhóm: một nhóm gồm những phụ nữ mãn kinh trước 47 tuổi và nhóm còn lại gồm những phụ nữ mãn kinh ở tuổi 47 tuổi và trễ hơn.
 
Loãng xương và độ tuổi mãn kinh có liên quan với nhau - Ảnh: Shutterstock
Sau 29 năm nghiên cứu, chỉ còn 198 phụ nữ còn sống và vẫn tiếp tục nghiên cứu (tại thời điểm này họ đã 77 tuổi).
Theo Healthday, các nhà nghiên cứu đã đo lại mật độ xương của các đối tượng tham gia và thấy rằng 56% số phụ nữ mãn kinh sớm bị loãng xương, trong khi chỉ có 30% ở những phụ nữ mãn kinh muộn bị loãng xương.
Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những phụ nữ mãn kinh sớm có nguy cơ gãy xương do loãng xương và tử vong cao hơn.
Nghiên cứu được đăng trên tạp chí International Journal of Obstetrics and Gynecology ra ngày 25.4 .

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Giàu canxi, vitamin D, protein và các chất chống ôxy hoá, một số thực phẩm có khả năng ngăn ngừa bệnh loãng xương và giảm mật độ xương sau tuổi 50.


Ngũ cốc

Với hàm lượng protein từ 8-14%, đạm thực vật trong ngũ cốc có khả năng chống lại sự “thăm hỏi” của bệnh loãng xương - giảm mật độ xương (cứ 4 phụ nữ sau tuổi 50 lại có một người bị loãng xương còn ở đàn ông tỉ lệ là 1/8).

Hãy xen kẽ vào thói quen ăn uống hàng ngày (bánh mì, bột mì, gạo…) bằng mầm lúa mì, rau quả sấy khô. Lưu ý: 100g mầm lúa mì mang đến 26g đạm, còn một nắm lúa mạch mang đến 14g đạm.

Sản phẩm từ sữa

Thực phẩm hàng đầu giúp bạn phòng tránh chứng loãng xương chính là các sản phẩm từ sữa! Vì chúng mang canxi đến cho xương – thành phần chính cẩu thành nên xương.

Sau tuổi 50, cơ thể chúng ta cần khoảng 1,2g canxi mỗi ngày, dàn đều ra trong ngày với mỗi lần tối đa 0,5g. Để đảm bảo nhu cầu canxi sau tuổi 50, cần tiêu thụ lượng sản phẩm từ sữa tương đương với 0,75lít sữa/ ngày. Ví dụ: 1 cốc sữa buổi sáng - 1 hũ sữa chua buổi trưa - 1 cốc sữa vào 5h chiều - 30 đến 50g phô mai vào bữa tối.

Cá hồi

Với hàm lượng vitamin D dồi dào (khoảng 12 đến 20 microgram trong 100g cá) tham gia tích cực vào sự tái tạo mật độ xương, cá hồi là 1 trong 6 thực phẩm giúp bạn phòng tránh bệnh loãng xương.

Bắt đầu từ tuổi 50, lượng vitamin D cần thiết cung cấp cho cơ thể mỗi ngày là 10 microgram. Hãy tiêu thụ cá hồi 2 lần/tuần để đảm bảo nhu cầu vitamin D cho cơ thể. Ngoài ra, phơi nắng cũng giúp cơ thể hấp thụ được một lượng nhỏ vitamin D qua da.

Giá đỗ
 
Hấp thu thức ăn làm từ đậu nành giúp giảm quá trình loãng xương ở phụ nữ sau giai đoạn mãn kinh, khi các thay đổi trong nội tiết tố của cơ thể có thể làm xương mỏng đi nhanh chóng và gia tăng nguy cơ gãy xương. Lý do là trong đậu nành có chứa phyto-oestrogen (hóc môn oestrogen thực vật), đặc biệt là isoflavon.

Trung bình, 100g giá đỗ chứa 35mg isoflavon….Tuy nhiên, chống chỉ định tiêu thụ quá 1mg isoflavon trên 1kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày (Ví dụ, tối đa 60mg cho một phụ nữ nặng 60kg).

Chè xanh

Với hàm lượng flavonoi (chất chống ôxy hoá) phong phú trong lá chè, chè xanh góp phần giảm nguy cơ loãng xương ở người cao tuổi. Thực vậy, theo các nghiên cứu khoa học, những người uống chè xanh trên 10 năm có mật độ xương dồi dào hơn những người khác.

Tuy nhiên, tránh uống quá 3 cốc nước chè/ngày vì trong chè có nhiều théin - một chất gây kích thích. Ở một số người, uống quá nhiều nước chè còn có thể gây đau đầu, thở gấp cũng như rối loạn tầm nhìn hay khó khăn về tiêu hoá.

Bắp cải

Bắp cải chứa vitamin K giúp tăng mật độ xương và ngăn ngừa sự rạn xương hông. Chính nhờ loại rau này, người dân đảo Okinawa ( Nhật Bản ) nằm trong nhóm những người có tuổi thọ cao nhất trên thế giới.

100g bắp cải mang tới 0,2mg vitamin K trong khi lượng vitamin K hàng ngày nên nạp vào cơ thể là 0,03 đến 1mg.

Cùng với việc tuổi thọ ngày càng tăng cao, số người già ngày càng nhiều thì trên thế giới cũng như ở Việt Nam, bệnh loãng xương đang nổi lên là một vấn đề xã hội và ngày càng được quan tâm. Loãng xương là bệnh rất thường gặp có tỷ lệ mắc bệnh cao, chi phí rất tốn kém trong việc phòng, điều trị, đặc biệt là các chi phí liên quan đến chăm sóc, điều trị các biến chứng gẫy xương do loãng xương.



Loãng xương là gì?

Loãng xương được định nghĩa là tình trạng bệnh lý của hệ thống xương đặc trưng bởi sự giảm khối lượng xương kèm tổn hại đến vi cấu trúc của tổ chức xương làm giảm độ chắc của xương gây nguy cơ gẫy xương. Như vậy khi một người bị loãng xương thì cả “chất” và “lượng” của hệ thống xương đều bị suy giảm.

Loãng xương được phân thành hai loại (type): loãng xương nguyên phát là loãng xương mà không tìm thấy căn nguyên nào khác ngoài tuổi tác (phân thành loãng xương nguyên phát typ II) và /hoặc sau tình trạng mãn kinh ở phụ nữ (loãng xương typ I). Loãng xương nguyên phát có thể do sự lão hoá của tạo cốt bào là tế bào tạo xương từ đó gây nên thiểu sản xương. Loãng xương thứ phát là loãng xương tìm thấy nguyên nhân do các bệnh lý như cường cận giáp, cường tuyến giáp, hội chứng Cushing; viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, các dị dạng cột sống; các ung thư xương, đa u tuỷ xương; các bệnh lý dạ dày ruột gây rối loạn hấp thu... hoặc do sử dụng một số thuốc như corticoid, heparin, phenyltoin… kéo dài; giảm nội tiết tố sinh dục do cắt buồng trứng hoặc do dùng thuốc ức chế...

Một số bệnh lý bẩm sinh cũng gây nên tình trạng loãng xương như bệnh xương thủy tinh (Brittle bone disease). Ngoài ra phải kể đến những yếu tố nguy cơ loãng xương như tuổi cao, giới nữ, chủng tộc, di truyền, tiền sử gia đình có bố mẹ bị gẫy xương do loãng xương, thể chất thấp bé nhẹ cân, lối sống tĩnh tại, hút thuốc lá nhiều, uống rượu nhiều, dinh dưỡng kém, ăn thiếu chất calci, vitamin D, C...

Hiện nay, dựa vào một số yếu tố nguy cơ của loãng xương các nhà khoa học đã lập nên thang điểm FRAX (Fracture Risk Assessment Tool) để đánh giá nguy cơ gẫy cổ xương đùi do loãng xương trong 10 năm và nguy cơ gẫy xương một số xương chính (của cột sống, xương cẳng tay, cổ xương đùi và xương bả vai) trong 10 năm. Để xác định nguy cơ gẫy các xương nói trên trong vòng 10 năm, người ta chỉ cần điền một số thông số đánh giá yếu tố nguy cơ của bản thân vào bảng tính FRAX (có thể tìm trên mạng internet). Đây cũng là một căn cứ quan trọng, cùng với chỉ số T-score, nhằm quyết định có điều trị bệnh loãng xương hay không.


Triệu chứng và chẩn đoán

Việc dự phòng loãng xương cần được đặt ra ở tất cả các lứa tuổi, bao gồm tăng cường dinh dưỡng, đảm bảo đủ chất calci, vitamin D và các yếu tố vi lượng. Rèn luyện thể lực thường xuyên đều đặn sẽ giúp xương chắc khoẻ, làm tăng mật độ xương và làm giảm sự mất xương.

Bệnh loãng xương thường biểu hiện kín đáo, tiến triển thầm lặng không có triệu chứng. Một số trường hợp sau khi có biểu hiện gẫy xương tự nhiên hoặc sau chấn thương nhẹ mới phát hiện ra. Gẫy xương ở xương ngoại vi thường gặp ở tay, chân nhất là gẫy đầu dưới xương quay ở cổ tay hoặc gẫy cổ xương đùi. Ở cột sống, gẫy xương biểu hiện bởi lún xẹp đốt sống có thể dẫn đến đau cột sống cấp tính, khởi phát đột ngột, kèm hay không kèm triệu chứng chèn ép thần kinh liên sườn hay thần kinh tọa.

Đau cột sống do loãng xương thường có tính chất cơ học rõ: giảm rõ khi nằm và giảm dần rồi biến mất trong vài tuần. Đau xuất hiện khi có một đốt sống mới bị xẹp, hoặc đốt sống ban đầu bị xẹp nặng thêm. Trường hợp đau cột sống mạn tính bệnh nhân đau âm ỉ liên tục, có những lúc đau trội giống đợt cấp. Khám có thể phát hiện giảm chiều cao, gù cột sống, co cơ cạnh cột sống, hạn chế động tác cúi ngửa, ấn đau chói tại chỗ xẹp.

Các thăm dò cận lâm sàng cần làm bao gồm chụp Xquang có thể thấy mất chất khoáng ở xương biểu hiện bởi hình ảnh tăng thấu quang, kèm hoặc không kèm gẫy xương. Trên phim Xquang chụp cột sống còn thấy các biến dạng lún xẹp đốt sống, đốt sống hình thấu kính, hình chêm gây gù cột sống… Tuy nhiên khi có biểu hiện loãng xương trên phim chụp Xquang thì thường là biểu hiện muộn, khối lượng xương đã giảm ít nhất 30%. Biện pháp chính xác nhất và sớm để chẩn đoán loãng xương theo Tổ chức Y tế Thế giới là đo bằng máy hấp phụ tia X năng lượng kép (Dual Energy Xray-Absorptionmetry- DEXA), đây chính là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán loãng xương.

Các phương pháp chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ ít được áp dụng trong chẩn đoán loãng xương do đắt tiền. Siêu âm đo mật độ xương chỉ khuyến cáo khi làm sàng lọc trên cộng đồng, sau đó muốn kết luận loãng xương phải đo bằng phương pháp DEXA. Hiện nay có nhiều nơi dùng phương pháp siêu âm đo ở cổ chân, cổ tay sau đó kết luận loãng xương ngay là chưa thực sự chuẩn xác. Các xét nghiệm máu như hội chứng viêm, xét nghiệm calci, phospho… thường bình thường trừ trường hợp loãng xương thứ phát có thể thay đổi.


Ðiều trị

Chỉ định điều trị bệnh loãng xương nguyên phát ở những trường hợp có tiền sử hay hiện tại bị gẫy xương do loãng xương (gẫy xương sau chấn thương nhẹ); được chẩn đoán loãng xương bằng phương pháp đo mật độ xương; hoặc trường hợp đo mật độ xương thấp nhưng có yếu tố nguy cơ loãng xương kèm theo và thang điểm FRAX có chỉ số nguy cơ gẫy cổ xương đùi do loãng xương trong 10 năm tới trên 3% hoặc nguy cơ gẫy một số xương chính trên 20%. Hiện nay điều trị bệnh loãng xương nguyên phát đã đạt được nhiều tiến bộ, đặc biệt ngày càng có nhiều thuốc điều trị có hiệu quả tốt.

Việc bổ xung calci từ 1- 1,5g phối hợp vitamin D3 800UI hoặc calcitriol là dạng hoạt tính sinh học của vitamin D3 với liều  0,25-0,5 µg một ngày là rất cần thiết, cần được coi là thuốc phối hợp đầu tay trong điều trị bệnh loãng xương. Các thuốc nhóm bisphosphonat như risedronat, alendronat… dùng hàng ngày hoặc tuần một lần có tác dụng tốt. Các chế phẩm mới thuộc nhóm này như pamidronat, zoledronat có thể dùng 6 tháng - 12 tháng một lần, có ích lợi trong tạo tuân thủ điều trị cho bệnh nhân, thường được chỉ định trong loãng xương nặng hoặc loãng xương thứ phát sau ung thư di căn xương, đa u tủy xương.

sua
 
Người cao tuổi nên bổ sung sữa vào thực đơn hàng ngày.


Nhóm calcitonin là hormon do tế bào nang cạnh tuyến giáp tiết ra dùng đường tiêm bắp, xịt mũi hoặc pha truyền tĩnh mạch (trong những chỉ định đặc biệt), ngoài tác dụng ức chế hủy xương còn có tác dụng giảm đau do loãng xương tốt. Các thuốc nội tiết tố sinh dục nữ như estroprogestatif, tibolon không những có tác dụng dự phòng, điều trị loãng xương còn có tác dụng tốt trong điều trị các rối loạn tiền mãn kinh ở nữ giới.

Tuy nhiên cần lưu ý chỉ định dùng thuốc rất chặt chẽ, không dùng ở những bệnh nhân ung thư vú, tử cung, buồng trứng, tiền sử có thuyên tắc mạch ngoại vi… Các thuốc khác như điều biến thụ thể estrogen chọn lọc (selective estrogen receptor modulator- SERM) với chế phẩm raloxifen, vitamin K2, strondium…đã và đang được sử dụng trong điều trị bệnh loãng xương và cho những hiệu quả nhất định. Các trường hợp loãng xương nguyên phát cần chú ý việc điều trị nguyên nhân gây bệnh và không được bổ xung calci khi có calci máu tăng cao.

Phòng bệnh

Dự phòng loãng xương rất quan trọng vì chi phí thấp hơn rất nhiều so với điều trị bệnh loãng xương cũng như các biến chứng của bệnh. Việc dự phòng loãng xương cần được đặt ra ở tất cả các lứa tuổi, bao gồm tăng cường dinh dưỡng, đảm bảo đủ chất calci, vitamin D và các yếu tố vi lượng. Rèn luyện thể lực thường xuyên đều đặn sẽ giúp xương chắc khoẻ, làm tăng mật độ xương và làm giảm sự mất xương. Cần bỏ các thói quen xấu có thể làm tăng nguy cơ gẫy xương như hút thuốc lá, uống rượu (nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ sử dụng các chất này nhiều làm tăng nguy cơ gẫy cổ xương đùi).

Với người già cần chú ý tới phòng nguy cơ ngã do mắt kém, hệ xương khớp không còn hoạt động tốt như người trẻ. Dự phòng loãng xương cần được chú ý đặc biệt ở những bệnh nhân bị bệnh khớp mạn tính, bệnh bộ máy vận động gây cản trở các hoạt động, sinh hoạt bình thường hoặc các bệnh có sử dụng các thuốc glucocorticoid kéo dài như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, hen phế quản… Ở phụ nữ mãn kinh do có nguy cơ mất xương cao, ngoài bổ xung calci, vitamin D thì cần lưu ý đến liệu pháp thay thế hormon dự phòng bằng các hormon sinh dục nữ tổng hợp như estroprogestatif, tibolon nếu không có chống chỉ định.

Nếu trong điều trị chỉ dựa dẫm vào thuốc mà không chăm sóc khớp gối viêm đúng cách thì khó lòng mà hồi phục hoàn toàn thậm chí chuyện khỏi bệnh là còn xa vời.



Những bệnh có thể gặp ở khớp gối
Bệnh đầu tiên là thấp khớp cấp. Đây là một bệnh được cho là liên cầu khuẩn beta tan máu nhóm A gây ra. Chỉ cần một nhiễm khuẩn ở họng, một nhiễm khuẩn ở bàn tay hay thậm chí là một nhiễm khuẩn ở bàn chân cũng có thể gây ra bệnh này, nhất là lứa tuổi trẻ em. Trong trường hợp này, không chỉ khớp bị ảnh hưởng mà tim và thận cũng bị tác động. Vì thế mà trong các trường hợp thấp khớp cấp, chúng ta cần phải khám xét toàn diện và cẩn trọng.

 Khớp bình thường (trái) và khớp bị thoái hóa (phải).

Bệnh thứ hai phải kể tới là thoái hoá khớp gây viêm khớp gối vô khuẩn.
Sở dĩ nó gây viêm là vì “tự nhiên” trong khớp gối mọc ra các “gai xương”. Đây chính là điểm mà y học gọi là thoái hoá xương ở người già.
Bệnh thứ ba là bệnh gút. Bệnh gút, hiểu đơn giản là bệnh tạo ra quá nhiều acid uric trong cơ thể dẫn đến lắng đọng trong khớp gây ra viêm khớp. Có nhiều khớp bị viêm và bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gút này nhưng một trong các khớp đó là khớp gối. Nó biểu hiện đặc biệt rõ khi người bệnh nhậu nhẹt, uống rượu bia và ăn nhiều thịt chó. Bệnh hay gặp ở những người béo, nghiện rượu, mắc hội chứng chuyển hoá.
Bệnh thứ tư gây ảnh hưởng tới khớp gối là bệnh viêm xương tủy xương. Đây là bệnh nhiễm khuẩn xương khớp điển hình. Đặc thù của bệnh này là chỉ tấn công vào các khớp lớn như khớp gối. Người ta không hiểu vì sao các vi khuẩn lại “thích” khớp gối, nhưng một giả thiết được đặt ra là do khớp có quá nhiều mạch máu ở các đầu xương tại khớp nên khi vi khuẩn xâm nhập, di chuyển thì chúng định cư luôn tại khớp gối. Nếu không được can thiệp điều trị bài bản, người bệnh có nguy cơ bị cắt cụt chân.
Chỉ cần uống thuốc là xong?
Trong điều trị viêm khớp gối nói chung và viêm khớp nói riêng, sử dụng thuốc là một điều bắt buộc. Các thuốc chống viêm khớp có tác dụng giảm các hoạt chất trung gian hoá học của viêm và do đó tạo ra nhiều tác dụng có lợi. Giảm được các chất trung gian hoá học của viêm sẽ làm giảm đau khớp vì đây chính là những tác nhân gây ra đau. Giảm được chất gây viêm sẽ giảm được hỏng khớp vì đây là những chất làm thay đổi tính chất dịch nuôi màng khớp. Giảm được chất trung gian của viêm sẽ làm khớp bớt sưng, da bớt đỏ vì thế mà da vùng xung quanh khớp được nuôi dưỡng đầy đủ.
Song có một điều hết sức quan trọng trong điều trị là nếu chỉ dựa vào thuốc mà không chăm sóc nó xứng đáng thì nó khó lòng mà hồi phục hoàn toàn.
Tại sao vấn đề chăm sóc lại được quan tâm? Đó là vì khớp gối rất hay vận động. Mặc dù rất đau và rất giữ gìn nhưng nhiều khi người bệnh vô tình vận động nó vì nó quá cần thiết để thực hiện những động tác từ đơn giản nhất. 
Ở đây, thuốc có thể ức chế gần như hoàn toàn chất gây viêm sau những liều đầu tiên uống thuốc. Biểu hiện minh chứng là triệu chứng đau gần như giảm hẳn. Nhưng nếu bạn đi lại bình thường ngay hay đi nhanh một chút thì gần như chất gây viêm lại được khôi phục hoàn toàn. Hậu quả là khớp vừa mới khỏe đau xong bao nhiêu thì nó đau lại bấy nhiêu. Khớp giảm sưng được bao nhiêu thì nó lại sưng lại bấy nhiêu, mặc dù lượng thuốc còn tồn lưu trong máu. Vì thế mà chìa khoá giúp điều trị thành công căn bệnh này là bất hoạt được vận động của khớp gối.
Ba nguyên tắc để mau khỏi bệnh
Như trên đã đề cập, việc bất hoạt vận động khớp gối thực sự quan trọng. Nó được ví như là cái bản rộng của chìa khoá để chiếc chìa khoá dễ mở hơn. Thế cho nên 3 nguyên tắc sau không bao giờ được quên với cả bác sĩ và người bệnh.
Nguyên tắc 1: Căn dặn bệnh nhân đầy đủ. Nếu bạn chỉ kê đơn thuốc rồi vội vàng “xong” để sang người tiếp theo thì kể như bạn cầm chắc một cái hẹn với người bệnh trong một vài ngày tới. Bạn cần bình tĩnh khám và ước lượng mức độ bệnh để ra chỉ định thuốc đầy đủ. Song hành với đó là căn dặn bệnh nhân về chế độ hạn chế vận động thật kỹ để đạt được mục tiêu cuối cùng. Ở đây, sự căn dặn chăm sóc quan trọng như chính việc căn dặn dùng thuốc vậy.
Nguyên tắc 2: Người bệnh phải tự biết chăm sóc mình. Việc hạn chế vận động là việc không bao giờ được quên. Đừng nên chỉ đơn giản hoá điều trị là tiêm và uống thuốc. Ở đây có một mối tương quan thuận, càng hạn chế vận động tốt bao nhiêu bạn càng nhanh khỏi bấy nhiêu. Hạn chế vận động có nghĩa là hạn chế đi lại, hạn chế bước lên bước xuống bậc thang. Bạn gần như cố định chân trong tư thế duỗi thẳng. Gần như chỉ nằm nghỉ hay ngồi nghỉ trong những ngày đầu tiên điều trị. Nếu bạn đã chấp hành tốt việc hạn chế vận động nhưng bạn ngày nào cũng bước lên taxi để đến nhà bác sĩ khám thì coi như không thành công. Hãy nhớ rằng, chỉ một động tác gấp duỗi gối cũng làm hỏng tiến trình điều trị của bạn.
Nguyên tắc 3: Cố định khi cần thiết. Trong những trường hợp mà việc hạn chế vận động xem ra có vẻ khó thực hiện thì chúng ta có thể áp dụng biện pháp hạn chế vận động cưỡng bức. Biện pháp đơn giản nhất là quấn băng chun quanh gối. Hãy thực hiện và thử kiểm nghiệm xem, sự nhanh hay chậm khỏi bệnh đúng là hoàn toàn phụ thuộc vào bạn. 
Tầm quan trọng của khớp gối
Có thể nói rằng, khớp gối là một khớp đa dụng nhất của cơ thể. Hầu như trong mọi hình thức vận động, không ít thì nhiều đều liên quan tới sự vận động của khớp gối. Cho dù đó là vận động tay hay vận động chân.
Khớp gối được coi là một khớp lớn của cơ thể. Nó có một khối lượng mạch máu vô cùng nhiều và vô hình trung nó cũng chính là điểm quy tụ của nhiều bệnh tật. Và vì là một khớp lớn nên nó sẽ là một khớp gần như đầu tiên bị bệnh thoái hoá khớp. Do vậy biểu hiện đau khớp gối gặp trong khá nhiều bệnh và buộc chúng ta phải đặt vào nó một mức độ quan tâm xứng đáng.

Việc tập luyện giúp giảm đau và cứng khớp, tăng sức dẻo dai, làm mạnh cơ bắp, khỏe tim. Nó còn giúp giảm cân và làm cơ thể khỏe khoắn. Tuy nhiên, nếu tập không đúng cách, bệnh sẽ nặng thêm.


Có 3 cách tập luyện tốt nhất cho người bị viêm khớp. Tập nhẹ (như khiêu vũ) giúp khớp hoạt động bình thường và giảm sự căng khớp; giúp duy trì và tăng sự dẻo dai. Tập mạnh (như cử tạ) làm mạnh cơ bắp; cơ có mạnh mới hỗ trợ và bảo vệ được các khớp bị viêm. Thể dục nhịp điệu (aerobic) hay tập luyện kéo dài (như đi xe đạp) giúp cải thiện tim mạch, kiểm soát trọng lượng cơ thể và cải thiện toàn bộ chức năng. Kiểm soát thể trọng là yếu tố rất quan trọng đối với người bị viêm khớp bởi sự dư cân sẽ làm tăng áp lực lên các khớp.
Để thiết lập chương trình tập luyện, nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa. Hãy khởi đầu việc tập luyện với sự giám sát của chuyên viên vật lý trị liệu. Trước hết, phải làm ấm các khớp bị viêm, khởi động với các bài tập nhẹ. Sau đó, thực hiện các bài tập nặng hơn một cách từ từ với các trọng lượng nhỏ, tập thật chậm.
Hãy chọn chương trình tập luyện phù hợp nhất và tập luyện thường xuyên với nó. Sau tập, cần dùng các túi chườm lạnh.
Các phương pháp sau sẽ giúp bạn chặn đứng cơn đau trong thời gian ngắn để thấy dễ chịu hơn khi tập luyện:
- Chườm nóng: Có thể sử dụng túi chườm nóng hay tắm nóng, thực hiện tại nhà, mỗi lần khoảng 15-20 phút, thực hiện 3 lần/ngày sẽ giúp giảm triệu chứng đau.
- Dùng sóng ngắn, vi ba và siêu âm để đưa nhiệt xuống sâu hơn ở những vùng khớp không bị viêm, thường dùng ở khớp vai để làm giãn cơ gân do tập luyện quá căng. Nhiệt sâu không được chỉ định đối với những bệnh nhân bị viêm khớp cấp tính.
- Chườm lạnh: Có thể sử dụng các túi đựng nước đá, làm giảm đau và viêm, thường dừng khoảng 10-15 phút mỗi lần. Chườm lạnh được chỉ định trong viêm khớp cấp tính.
- Thủy liệu pháp (hydrotherapy): Có thể làm giảm đau và căng cơ. Tập luyện trong bể rộng có vẻ dễ hơn bởi vì nước làm giảm sức nặng của cơ thể lên khớp bị viêm.
- Vật lý trị liệu: Bao gồm các biện pháp như kéo giãn, massage và tẩm quất. Với các chuyên viên, những phương pháp này có thể làm giảm đau và làm tăng độ dẻo dai của cơ khớp.
- Giãn cơ: Bệnh nhân cần học cách thư giãn để làm giãn cơ và giảm đau. Các chuyên viên có thể thực hiện những biện pháp giãn cơ chuyên nghiệp.
- Châm cứu: Đây là phương pháp cổ truyền của Trung Quốc có thể giúp giảm đau. Các nhà nghiên cứu tin rằng kim châm cứu sẽ kích thích các sợi thần kinh cảm giác sâu, sau đó được truyền lên não và làm giãn cơ.

Để giảm đau do viêm khớp, hãy tập thể thao và bổ sung những thực phẩm có lợi cho xương, theo Times of India. Tiến sĩ Shekhar Agarwal, Giám đốc điều hành và là bác sĩ giải phẫu chính của Viện Chấn thương chỉnh hình Delhi (Ấn độ) đã chỉ ra 5 cách để làm dịu cơn đau do viêm khớp:


1. Áp dụng chế độ ăn kiêng nhẹ:  Bổ sung những thực phẩm có lợi cho sức khỏe vào khẩu phần của bạn. Nên dùng những thực phẩm có chứa axit béo Omega-3 - chất chống oxy hóa, làm giảm chứng viêm và giúp giảm đau.Tránh chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa vì chúng làm tăng cân, dẫn đến tăng gánh nặng lên các khớp xương.
2. Dùng những thực phẩm tốt cho xương và khớp xương: Trái cây nhiệt đới tươi như ổi, cam, chanh và tiêu là nguồn cung cấp vitamin C. Cà rốt và củ cải có chứa beta carotien - chất chống oxy hóa rất hữu hiệu. Sữa và hải sản chứa nhiều vitamin D - chất rất cần thiết cho xương và khớp xương
3. Chơi thể thao: Thể thao giúp làm tăng sự rắn chắc và khỏe mạnh của cơ bắp, bảo vệ vùng quanh khớp và ngăn ngừa sự suy yếu của khớp. Các môn thể thao như đi bộ nhanh, chạy bộ, đạp xe đạp… giúp duy trì sự chắc khỏe của xương và tránh loãng xương. Hãy tham khảo ý kiến của các huấn luyện viên và các nhà chuyên môn trước khi bắt đầu lịch trình tập luyện các môn thể thao trên.
4. Tập vật lý trị liệu: Vật lý trị liệu giúp vận động các khớp bị cứng, giúp các cơ quanh khớp mạnh hơn. Tập vật lý trị liệu một hoặc hai lần mỗi tuần sẽ giúp giảm cơn đau do chứng viêm khớp gây ra.
5. Giảm cân: Giảm cân sẽ giúp bệnh nhân viêm khớp giảm các chứng viêm và đau ở khớp. Tuy nhiên, việc giảm cân nên được thực hiện điều độ, vừa sức.

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013


Đau khớpBệnh đau khớp (viêm khớp) là một dạng rối loạn tại khớp được đặc trưng bởi hiện tượng viêm dẫn đến tình trạng sụn ở khớp xương bị ăn mòn. Nếu bệnh tiến triển nặng hơn, khi vận động các khớp xương người bệnh sẽ cảm thấy đau ở các khớp xương, nắn chung quanh các khớp xương sẽ thấy đau, có khi bị sưng, cử động các khớp xương bị hạn chế, nhiều khi phát ra tiếng kêu răng rắc trong khớp xương. Thường thì khớp xương nào cũng có thể bị ảnh hưởng, nhưng phần lớn bệnh đau khớp ảnh hưởng tới các khớp xương, đau khớp tay, đau khớp vai, đau khớp đầu gối, đau khớp xương chậu và đặt biệt nhất là trên xương sống.


Nguyên nhân đau khớp

Nguyên nhân chính đưa đến bệnh đau khớp là lớp sụn ở khớp xương bị thoái hóa và ăn mòn, thiếu chất nhờn ở các khớp xương, điều này tạo nên đau nhức khi cử động hoặc vận động. Tình trạng này là do lớn tuổi các tế bào bị suy thoái, ảnh hưởng nhất là các tế bào ở đầu khớp xương để tạo chất sụn và chất nhờn ở đầu khớp xương (sụn ở khớp xương được cấu tạo như một lớp đệm giữa hai đầu khớp xương để tránh va chạm khi cử động, còn chất nhờn ở trong khớp xương giúp cho trơn trượt dễ dàng khi chúng ta cử động). Lao động nặng về thể chất lúc còn trẻ, bị tai nạn như đụng xe, ngã té, bong gân hoặc thiếu dinh dưỡng cũng dễ đưa tới tình trạng đau khớp.

Triệu chứng của bệnh khớp

Dấu hiệu điển hình nhất của viêm khớp dạng thấp là viêm đa khớp, diễn biến kéo dài. Không chỉ bị đau, sưng tấy các khớp tay, chân mà người bệnh còn bị viêm nhiều khớp khác trên cơ thể. Các khớp viêm bị sưng, nóng, đỏ, đau, khó cử động. Tình trạng khớp bị cứng, khó cử động thể hiện rõ nhất vào sáng sớm và có thể kéo dài hàng giờ. Cùng với các triệu chứng tại khớp là hiện tượng toàn thân như sốt, mệt mỏi, người xanh xao, gầy sút.
Viêm khớp dạng thấp diễn biến theo từng đợt. Ở giai đoạn đầu, khi khớp mới bị sưng nóng nếu được phát hiện sớm và chữa trị tích cực, đúng cách, bệnh có thể diễn biến tốt. Nếu bệnh đã chuyển sang giai đoạn hai, xuất hiện tổn thương ở sụn khớp và đầu xương, người bệnh có nguy cơ bị biến dạng khớp, dính khớp, cứng khớp và mất khả năng vận động.

Ai là người hay mắc bệnh đau khớp?

Ai cũng có thể bị đau khớp. Nhưng thường là những người cao tuổi do xương, khớp không còn chắc khỏe dẫn đến thoái hóa, loãng xương. Ngoài ra, những người có dị dạng khớp, thừa cân béo phì, chấn thương khớp, khi trẻ lao động nặng thì đến tuổi trung niên hoặc về già cũng dễ mắc bệnh này.

Cách chữa bệnh đau khớp

Dùng thuốc giảm đau: Hiện nay trên thị trường có bày bán rất nhiều loại thuốc giảm đau như aspirin, ibuprofen hay acetaminophen, đều có tác dụng giảm đau nhanh chóng. Tuy nhiên, bạn nên tham khảo thêm ý kiến của bác sĩ hay dược sĩ trước khi muốn sử dụng loại thuốc nào. Ngoài ra, bạn nên nhớ rằng thuốc là con dao hai lưỡi, bởi vậy sẽ không có lợi cho bạn nếu quá lạm dụng thuốc giảm đau.
Sử dụng biện pháp châm cứu: Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy: châm cứu có tác dụng đặc biệt đối với những bệnh nhân mắc chứng đau xương khớp mà nhất là chứng viêm khớp mãn tính. Cho nên, bạn không nhất thiết phải quá phụ thuộc vào thuốc hay phải "miễn cưỡng" chấp nhận những ca phẫu thuật để hy vọng cải thiện tình trạng sức khoẻ mà có thể áp dụng liệu pháp châm cứu, đơn giản, ít tốn kém mà đem lại hiệu quả cao trong việc điều trị.
Luyện tập: Luyện tập được xem như một liều thuốc quý, rất có ích đối với sức khỏe con người và đặc biệt cực kỳ công hiệu trong việc giảm đau nhức. Có rất nhiều hình thức luyện tập mà bạn có thể lựa chọn phù hợp theo độ tuổi, sức lực và sở thích, ví như những môn thể thao bơi lội, aerobic hay chỉ đơn giản là hình thức đi bộ.

Cách phòng bệnh đau khớp

  1. Thường xuyên vận động:Việc luyện tập không chỉ tốt cho hệ tim mạch mà còn tốt cho hệ xương, cơ và khớp.
  2. Căng duỗi: Căng duỗi sẽ giúp cơ bắp được tăng cường và củng cố các khớp. Lưu ý là phải khởi động kỹ các khớp trước khi thực hiện bài tập căng duỗi nếu không sẽ có thể dẫn tới kết quả ngược.
  3. Ăn uống hợp lý: Xương của bạn cần một lượng lớn dinh dưỡng để khỏe mạnh. Vì thế các thực phẩm giàu vitamin C và E, canxi sẽ hỗ trợ cho hệ khớp trong cơ thể không bị sớm suy thoái.
  4. Uống đủ nước: Nước chiếm 70% thành phần của sụn và duy trì sự trơn tru giữa 2 đầu xương.

Bài thuốc chữa đau khớp

Lấy lá ngải cứu trắng rửa sạch, cho lẫn muối vào rồi nướng nóng lên, sau đó đắp vào khớp. Khi khớp bị sưng, đắp ngải cứu muối ấm sẽ làm cơn đau giảm đi, khớp bớtsưng hơn. Còn với những người có nguy cơ cao bị đau khớp (người lớn tuổi, người béo phì...) có thể dùng bài thuốc này chườm lên khớp hàng ngày sẽ có tác dụng phòng bệnh.
Ngâm chân bằng nước muối ấm pha gừng. Mỗi ngày, tốt nhất ngâm chân một lần vào thời gian thuận lợi, ngâm từ 15 - 30 phút. Nước muối ấm và gừng cũng có tác dụng làm dịu cơn đau, phòng bệnh đau khớp cổ chân. Ngâm chân bằng nước ấm hàng ngày vào buổi tối không chỉ có lợi cho chân mà còn giúp phòng người nhiều bệnh cho toàn thân.

Những lưu ý đối với người đau khớp

Những người bị đau khớp, viêm khớp dạng thấp tuyệt đối không được ra ngoài khi trời lạnh kèm theo mưa phùn. Bởi những lúc trời lạnh, độ ẩm cao thì tình trạng bệnh càng nặng hơn.
Trong tình huống bắt buộc, phải đi tất ấm và dùng áo đi mưa để tránh bị ướt. Nếu quần áo bị ẩm, cần thay ngay và lau khô người, chân tay. Còn với bà con nông dân, khi khớp bị những đợt sưng cấp tuyệt đối không được lội nước, lội bùn. Tốt nhất người nông dân khi làm ruộng nên đi ủng để chân vẫn luôn khô ráo".
Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý mãn tính, có thể gây những di chứng nặng nề như: dính, biến dạng khớp dẫn đến tàn phế. Ở Việt Nam, khoảng 0,3% - 0,5% dân số mắc bệnh, trong đó 80% là nữ giới ở độ tuổi từ 30 trở lên.
Người bị viêm khớp dạng thấp phải được điều trị sớm để tránh tình trạng bị dính, biến dạng khớp dẫn đến tàn phế. Có rất nhiều loại thuốc trị bệnh trên thị trường nhưng người bệnh không được tự ý dùng thuốc vì có thể có những tác dụng phụ. Đặc biệt, những thuốc điều trị về thấp khớp rất dễ ảnh hưởng đến dạ dày.



Tiến sĩ Shekhar Agarwal, Giám đốc điều hành và bác sĩ phẫu thuật tại Viện Chấn thương và Chỉnh hình Delhi (Ấn Độ), giới thiệu một số cách giúp giảm các cơn đau khớp, theo trang tin healthmeup.com.


Thay đổi chế độ ăn uống: chỉ ăn các thực phẩm lành mạnh. Tránh chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa vì làm tăng cân, gây sức ép nhiều hơn lên khớp xương. Thực phẩm giúp giảm đau là thực phẩm chứa các a xít béo omega 3 (như cá hồi, các loại hạt...), chất chống ô xy hóa có tác dụng giảm viêm sưng và từ đó giúp giảm đau. Nên ăn các thực phẩm như quả óc chó, đậu nành và hải sản. Trái cây tươi như ổi, cam, chanh... giàu vitamin C, rất tốt cho bệnh nhân viêm khớp. Cà rốt và củ cải có chứa beta carotien, là chất chống ô xy hóa hiệu quả. Cuối cùng, sữa và hải sản chứa nhiều vitamin D cần thiết cho xương và khớp.
Đạp xe, chạy bộ: các bài tập tăng cường sức khỏe và sức mạnh cơ bắp giúp bảo vệ khớp và cũng làm tăng khả năng cảm nhận ở khớp. Do đó, tập thể dục giúp bảo vệ các khớp xương và ngừa té ngã. Các bài tập củng cố xương tốt nhất là đi bộ nhanh, chạy bộ, đạp xe. Chúng giúp duy trì mật độ xương và tránh loãng xương. Các bài tập giữ thăng bằng có thể giúp bạn tránh té ngã, giảm nguy cơ bị gãy xương.
Vật lý trị liệu: giúp các khớp bị cứng chuyển động tốt và giúp cải thiện sức mạnh cơ bắp xung quanh khớp. Vật lý trị liệu cũng sẽ hướng dẫn bạn có những tư thế tốt và thay đổi lối sống phù hợp. Một hoặc hai buổi vật lý trị liệu trong một tháng có thể giúp giảm đau viêm khớp tùy theo mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Giảm cân: là điều hết sức quan trọng đối với bệnh nhân viêm khớp vì giúp giảm áp lực lên khớp gối. Đối với những ai bị viêm khớp, giảm cân có nghĩa là ít bị viêm sưng hơn và cũng ít bị đau khớp hơn.



Cho tới hiện nay, viêm khớp dạng thấp vẫn (VKDT) là một thách thức cho y học. Bệnh này đứng hàng đầu trong nhóm bệnh lý khớp viêm gây tàn phế, mất khả năng vận động và tăng nguy cơ tử vong.



Đi bộ, leo cầu thang, nhảy dây, bơi lội, đạp xe đạp có lợi cho khớp.
VKDT là bệnh lý viêm mạn tính, ảnh hưởng toàn thân, đặc biệt là gây viêm khớp, biểu hiện sưng, nóng, đỏ, cứng khớp và giới hạn cử động.
Bất kỳ khớp nào cũng có thể bị ảnh hưởng, nhưng thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay và bàn chân. Ngoài khớp, các cơ quan khác cũng có thể bị tổn thương như tim, phổi, da, mắt.
Cứng khớp buổi sáng là triệu chứng thường gặp trong VKDT, có thể kéo dài trên 1 giờ. Một số bệnh lý khác cũng có thể gây cứng khớp buổi sáng như thoái hóa khớp, nhưng thường không kéo dài như VKDT, mà chỉ khoảng dưới 30 phút.
Tổn thương khớp đặc trưng của VKDT là viêm màng hoạt dịch, phá hủy sụn và bào mòn xương dưới sụn, gây hủy hoại khớp không hồi phục dẫn đến mất chức năng vận động.
Tại sao bị viêm khớp dạng thấp?
Hệ thống miễn dịch của cơ thể chúng ta gồm nhiều loại tế bào khác nhau giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây hại như virus, vi khuẩn, nấm, v.v. Ở những bệnh nhân VKDT, hệ thống miễn dịch hoạt động quá mức, tự tấn công, chống lại các tế bào và các cơ quan của cơ thể, dẫn tới các biểu hiện của bệnh.
Do đặc điểm này, VKDT được xếp vào nhóm bệnh tự miễn, tức cơ thể tự tạo kháng thể chống lại các thành phần trong cơ thể.
Chính xác nguyên nhân nào khiến hệ miễn dịch rối loạn và bắt đầu tấn công các mô khỏe mạnh trong VKDT vẫn chưa được biết rõ.
Tuy nhiên một số yếu tố được tìm thấy có vai trò quan trọng trong bệnh sinh của VKDT, như yếu tố môi trường và di truyền. Các nghiên cứu tìm thấy có mối tương quan giữa VKDT với một số tác nhân gây bệnh như vi trùng hoặc virus.
Ai dễ bị viêm khớp dạng thấp?
Khoảng 0,5% đến 1,5% dân số trên thế giới bị VKDT. VKDT có thể xảy ra ở tất cả các chủng tộc và tất cả các lứa tuổi, tuy nhiên lứa tuổi thường bị bệnh nhiều nhất là 30-50. Nữ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nam gấp 2 tới 3 lần.
VKDT có khi khó phát hiện vì bệnh có thể bắt đầu bằng những triệu chứng mơ hồ, như đau nhức khớp hoặc cứng khớp vào buổi sáng. Tuy nhiên, nhiều bệnh viêm khớp khác cũng có thể có triệu chứng tương tự.
X-quang khớp thường không tìm thấy triệu chứng bất thường trong giai đoạn đầu của bệnh. Không thể chẩn đoán VKDT dựa trên một triệu chứng lâm sàng, hoặc một kết quả xét nghiệm, mà phải là tổng hợp của tất cả các yếu tố đã nêu trên.
Vì vậy cần thiết phải có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa để có được chẩn đoán chính xác của VKDT và có kế hoạch điều trị phù hợp.
Muốn khỏi bệnh phải kiên trì
Do VKDT là một bệnh tự miễn, nên chưa có phương pháp điều trị khỏi hoàn toàn. Vì VKDT là một bệnh mạn tính, nên việc điều trị sẽ kéo dài.
Điều trị hiện nay giúp hầu hết bệnh nhân cải thiện được triệu chứng và duy trì chức năng vận động. Nhưng để đạt được mục tiêu này, cần thiết phải bắt đầu điều trị nội khoa thích hợp càng sớm càng tốt, trước khi quá trình hủy hoại khớp không hồi phục xảy ra.
Bên cạnh sử dụng thuốc, chế độ ăn uống và vận động thể lực thích hợp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị VKDT.
Những chế độ ăn uống cân bằng, giảm chất béo bão hòa, giàu omega-3, v.v. sẽ giúp ích cho bệnh nhân. Các hoạt động thể lực luyện tập thường xuyên như đi bộ, leo cầu thang, nhảy dây, bơi lội, đạp xe đạp có lợi cho khớp.


Những nguyên nhân chính gây bệnh viêm khớp sau sẽ giúp bạn hiểu biết thêm để phòng tránh bệnh một cách hiệu quả.



Những nguyên nhân chính:
1. Gen
 Gen là nguyên chính gây ra nhiều bệnh trong đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp ở những gia đình có tiền sử bệnh khớp.
 2. Có tuổi
 Khi có tuổi, sụn trở nên giòn và dễ gãy làm các khớp xương mất đi miếng đệm vì thế những người cao tuổi có nguy cơ cao mắc các bệnh về khớp.
 3. Thừa cân
 Những người thừa có nguy cơ cao bị viêm khớp do trọng lượng thừa tạo áp lực lên các khớp như khớp gối, khớp hông, khớp xương sống và khớp mắt cá chân
 4. Chơi thể thao
Một số môn thể thao có thể gây bệnh viêm khớp như: khi chơi tennis do các động tác lặp đi lặp lại tại vùng khuỷu tay gây lực lên khuỷu tay.  Những môn thể thao khác như bóng đá, bóng rổ gây áp lực lên vùng đầu gối lâu ngày sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp sau này.
5. Nghề nghiệp
 Có một số công việc làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp như công nhân làm việc theo dây chuyền thường phải lặp đi lặp lại những động tác nhất định trong thời gian dài gây nên các dạng viêm khớp ở ngón tay, bàn tay, cổ tay, khuỷu tay và vai.
 Các công việc phải mang vác nặng cũng làm tăng nguy cơ bị thấp khớp ở mắt cá chân, đầu gối, hông, xương sống và vùng cổ.
 6.  Do viêm nhiễm
 Một số dạng viêm khớp gây nên do viêm nhiễm vi trùng và vi khuẩn từ các phần khác trên cơ thể đều có thể gây bệnh.
 7. Stress
 Cuộc sống căng thẳng và nhiều stress làm mất cân bằng hormone trong cơ thể gây giảm khả năng miễn dịch với những vi khuẩn có hại vì thế tăng nguy cơ bị viêm khớp.
 8. Dị ứng thức ăn
 Có những loại thức ăn kích thích gây viêm sưng ở các khớp vì thế cần chú ý đến các loại thức ăn này.

Một số lời khuyên giúp giảm bệnh viêm khớp
  1. Lối sống khoẻ mạnh, chế độ ăn tốt cho sức khoẻ và tập luyện thể thao đều đặn giúp giảm nguy cơ mắc bệnh viêm khớp.
 2. Tránh những hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần và bố trí thời gian nghỉ ngơi hợp lý để giảm áp lực lên các khớp xương.
 3. Duy trì tập luyện thể thao đều đặn giúp các khớp linh hoat làm tăng độ chắc khoẻ của các cơ nên giảm áp lực lên các khớp.
 4. Tránh mang vác những vật nặng để giảm nguy cơ viêm khớp vùng lưng, mắt cá chân và đầu gối
 5. Ăn uống và sinh hoạt điều độ rất tốt cho sức khoẻ và giúp tránh xa bệnh viêm khớp.


Sau chấn thương rất nhiều người chủ quan không kiểm tra kỹ tổn thương và dấn đến viêm xương, vậy dấu hiệu sớm và điều trị viêm xương như thế nào?


Viêm xương chấn thương chỉ các nhiễm trùng xương do các vi trùng thường, không đặc hiệu, ngoại sinh từ ngoài vào sau gãy xương hở, sau các phẫu thuật, sau kết hợp xương trong gãy xương kín cũng như trong gãy xương hở.

I. Viêm xương chấn thương cấp tính (hay nhiễm trùng ổ gãy xương)

  • Trong vòng 3 – 4 tuần lễ đầu: tính từ thời điểm có dấu hiệu nhiễm trùng vết mổ của gãy xương hở hoặc sau kết hợp xương.
  •  Sau một gãy xương hở hoặc sau mổ kết hợp xương có thể có sốt cao rét rung, vết mổ sưng tấy đỏ, đau, làm mủ (cấp tính).
  •  Hoặc sau khi dùng kháng sinh kéo dài còn thấy sốt dao động kéo dài chỉ thấy sốt nhẹ từ 37,5 – 38oC.
  • Triệu chứng: sưng nóng, đỏ tại chỗ không rõ, chỉ có đau nhức dai dẵng, kém ăn mất ngủ, đó là triệu chứng đang nung mủ cần được phẫu thuật cắt lọc dẫn lưu tháo mủ.

II. Viêm xương chấn thương mãn tính

  • Sau tuần thứ 4 (từ tháng thứ 2) theo diễn biến chia thành 4 hình thái
  • Đau tại chỗ kéo dài.
  • Sốt kéo dài: 37 – 38oC.
  • Dò mủ tái phát nhiều lần.
  • Lỗ dò miệng hình phễu.
  • Xương to xù xì biến dạng.

*  Điều trị

Nguyên tắc điều trị viêm xương chấn thương tuỳ thuộc vào hình thái viêm xương:
  • Kháng sinh
  • Phẫu thuật: cắt lọc, lấy dị vật, lấy phương tiện kết hợp xương, lấy xương chết
  • Bất động

1. Điều trị viêm xương chấn thương cấp

  • Nếu có dấu hiệu nhiễm trùng sau mổ phải cắt bỏ tất cả các nốt chỉ khâu, banh rộng vết mổ để dẫn lưu dịch và máu tụ, dùng kháng sinh và bất động.
  • Nếu xử trí như vậy mà triệu chứng lâm sàng không giảm thì phải tiến hành phẫu thuật cắt lọc triệt để.
  •  Cố định chỉ định cho gãy hở xương đùi độ IIIb bị nhiễm trùng cấp.
  • Nếu vết thương đã nhiễm trùng có mủ thì phẫu thuật lấy bỏ các mảnh xương vụn và các kết hợp xương bên trong thay bằng cố định ngoài.
  • Tất cả các trường hợp phải để hở da chỉ khâu che xương.
Kháng sinh: dùng kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng; dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ (có hiệu quả tốt nhất), dùng kháng sinh đường toàn thân.

2. Điều trị viêm màng xương loét da

  • Cắt bỏ xẹo xơ chai.
  • Đục bạt bỏ bề mặt xương viêm.
  • Vá da nuôi dưỡng tốt.

3. Điều trị viêm xương có lỗ dò

  • Cắt bỏ đường dò.
  • Cắt bỏ mô bị xơ hoá.
  •  Để hở vết thương.
  • Kháng sinh.
  •  Bất động xương (đề phòng gãy xương).

4. Điều trị viêm xương có xương chết, xương tù:

  • Phẫu thuật cắt bỏ đường dò.
  • Lấy bỏ xương tù và xương chết.
  • Cố định xương đề phòng gãy xương.
  • X quang theo dõi trong nhiều năm.
  • Phải dùng kháng sinh đủ liều liên tục đúng thời gian.
  • Trong khi mở bơm xanh méthylèn vào lỗ dò để tìm các đường dò để phát hiện đường đi để mổ lấy hết các đường dò.
Phương pháp nhuộm xương sống bằng cách tiêm chất xanh Disulfine để phân biệt xương lành nhuộm màu xanh, xương chết không nhuộm màu (Jenny)

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Bệnh thấp khớp cấp hay còn gọi là bệnh thấp tim là một bệnh vừa có tổn thương ở tim. Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em, lứa tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là lứa tuổi đến trường, từ 5-15 tuổi. Bệnh không phát hiện sớm để điều trị và phòng ngừa kịp thời rất có thể dẫn đến suy tim.


Phòng bệnh thấp khớp cấp cho trẻ em -1
Ảnh: minh họa - Internet
Thấp khớp cấp (thấp tim) là một bệnh có liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, trong đó yếu tố do vi khuẩn và tự miễn đóng vai trò hết sức quan trọng.
Căn nguyên gây bệnh thấp tim
 Khoa học đã khẳng định rằng, vai trò của vi khuẩn liên cầu nhóm A (S. pyogenes) là thủ phạm chính gây nên thấp khớp cấp tính. Sự tồn tại, gây bệnh của liên cầu nhóm A ở khu vực đường hô hấp trẻ, nhất là ở họng và sự đáp ứng của cơ thể đối với vi khuẩn này đóng vai trò chính trong bệnh thấp khớp cấp. Tuy vậy, không phải bất kỳ người nào, trẻ em nào có vi khuẩn liên cầu nhóm A gây bệnh hoặc tồn tại ở họng cũng gây nên thấp tim mà chỉ có một số tỷ lệ nhất định bị thấp khớp cấp mà thôi.
 Ở Việt Nam theo thống kê chỉ thấy khoảng 3%o số trẻ mắc bệnh thấp tim. Đối với vi khuẩn liên cầu thì được người ta chia thành 3 nhóm chính: S. pyogenes, S. viridans và S. feacalis (chính là Enterococcus: liên cầu đường ruột). Cả 3 nhóm này về tính chất gây bệnh có khác nhau, đặc biệt chỉ có S.pyogenes (liên cầu nhóm A) mới gây bệnh thấp tim.
 Thông thường người ta gặp các týp huyết thanh của liên cầu nhóm A gây bệnh thấp tim là týp 1, 3, 5, 6, 14, 18, 19, 24, 27, 29. Sở dĩ liên cầu nhóm A gây bệnh thấp tim là do đặc điểm cấu tạo vách của chúng. Người ta thấy về cấu tạo vách của tế bào liên cầu nhóm A có phần giống với cấu tạo của khớp và cơ tim. Vì vậy khi vi khuẩn liên cầu xâm nhập vào cơ thể con người, cơ thể sẽ hình thành kháng thể chống lại chúng. Như vậy vô hình trung kháng thể do cơ thể sinh ra cũng có phần chống lại tổ chức của chính mình mà người ta gọi là phản ứng giữa kháng nguyên của liên cầu nhóm A, kháng nguyên của tổ chức khớp, cơ tim, van tim (glycoprotien của van tim) với kháng thể của cơ thể sinh ra.
 Ngoài ra, liên cầu nhóm A khi xâm nhập vào cơ thể cũng có thể gây nên viêm cầu thận cấp nhưng lại do các týp huyết thanh khác của liên cầu nhóm A chứ không phải do các týp huyết thanh gây bệnh thấp tim.
 Biểu hiện của bệnh
 Vi khuẩn liên cầu nhóm A có thể tồn tại ở họng của một số trẻ em (người lành mang vi khuẩn) rồi nhân lúc sức đề kháng của cơ thể vì một lý do nào đó sụt giảm thì chúng trở nên gây bệnh (gọi là gây bệnh cơ hội) hoặc vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể trẻ và gây bệnh viêm họng, viêm amidan ngay sau thời kỳ ủ bệnh. Trẻ thường sốt cao 38 - 39oC, có khi sốt cao và dao động kèm theo vã mồ hôi, nhịp tim nhanh, da xanh tái và bắt đầu có những dấuhiệu biểu hiện ở khớp, ở tim và ở da.
 Viêm khớp biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau. Thường các khớp lớn biểu hiện rõ nhất như khớp gối, khớp cổ tay, cổ chân, khớp khuỷu tay, khớp vai. Đặc biệt cần lưu ý là các khớp sưng, đau luân chuyển từ khớp này sang khớp khác và các khớp chỉ sưng đau vài ngày là hết và lại cử động được bình thường.
 Kèm theo đau khớp là viêm tim. Nhịp tim nhanh, thường trên 100 lần/ phút, trẻ tím tái, khó thở và thậm chí có phù. Trong các trường hợp bị nhẹ, trẻ chỉ kêu đau vùng tim và đánh trống ngực. Khi bị viêm tim sẽ làm cho các van của tim hoạt động không bình thường, tức là làm mất đi sự thanh mảnh, mềm mại, đóng mở hợp lý của nó. Các van tim dày lên, xơ cứng, vôi hóa, các mép van tim có thể bị dày, dính gây nên hở hoặc hẹp van tim và lâu dần sẽ làm loạn nhịp tim gây suy tim, đặc biệt là suy tim mất bù trừ ảnh hưởng đến khả năng lao động và có nguy cơ tử vong cao.
 Dưới da của trẻ bị thấp khớp cấp có thể có các hạt.
 Bệnh thấp khớp cấp có thể chữa khỏi được với điều kiện là phải phát hiện và điều trị sớm trong vòng 3 tháng đầu kể từ khi mắc bệnh. Người ta thống kê cho thấy tỷ lệ chữa khỏi rất cao (khoảng 90%), tuy nhiên sau khi chữa khỏi đợt thấp khớp cấp cũng cần tiêm phòng theo chỉ định của bác sĩ.
 Cách phòng bệnh
 Cần vệ sinh họng, miệng hàng ngày tránh không để trẻ mắc các bệnh viêm đường hô hấp trên như viêm họng, viêm mũi, viêm amidan, VA, viêm xoang.
 Khi phát hiện trẻ đã bị viêm đường hô hấp do vi khuẩn liên cầu nhóm A cần tích cực điều trị theo đơn của bác sĩ. Khi biết trẻ bị bệnh thấp tim do vi khuẩn liên cầu nhóm A cần dùng kháng sinh để tiêu diệt hết vi khuẩn. Tốt nhất là dùng benzathin penicilin tiêm bắp thịt với liều lượng 3 tuần tiêm một lần, mỗi lần 1,2 triệu đơn vị với người trưởng thành hoặc trẻ có cân nặng trên 30kg (với trẻ dưới 30kg cân nặng thì chỉ tiêm mỗi một lần là 600.000đơn vị).
 Nếu không có điều kiện tiêm kháng sinh, có thể dùng kháng sinh dạng viên uống, như phenoxymethyl penicilin, viên 250mg, uống 1 viên một lần với 4 lần trong một ngày. Những trẻ dưới 20kg cân nặng chỉ uống 125mg/lần x 4 lần ngày. Nếu người bệnh bị dị ứng với penicilin, có thể thay bằng erythromycin với liều lượng tương tự như phenoxymethyl penicilin và nếu trẻ nhỏ có dưới 25kg cân nặng dùng 40mg/1kg cân nặng/ ngày.
 Khi đã bị thấp khớp cấp cần tiêm kháng sinh cách nhau 3 tuần một lần và tối thiểu trong 5 năm và tốt nhất là phòng bệnh đến 18 tuổi, có khi còn lâu hơn theo chỉ định của bác sĩ theo dõi bệnh cho con, em mình. Đặc biệt những bệnh nhi trong đợt đầu đã có tổn thương tim cần tiếp tục tiêm phòng cho đến 25 tuổi và có thể kéo dài hơn nữa nếu có nguy cơ tái phát. Và những bệnh nhân có tổn thương van tim mạn tính do thấp tim thì phòng bệnh tái phát cần kéo dài trong suốt cuộc đời.
 Người ta cũng khuyên rằng một số bệnh nhân cho dù đã phẫu thuật tim do bệnh thấp tim vẫn có thể có nguy cơ tái phát và do vậy cũng cần tiêm phòng thấp khớp cấp.

Khi bị đau ở khớp, bệnh nhân thường đến bác sĩ hoặc tự động ra các nhà thuốc để mua thuốc điều trị. hiện nay các loại thuốc thấp khớp rất đa dạng về chủng loại nên các tác dụng phụ rất nhiều, do đó bệnh nhân phải hết sức cẩn thận khi sử dụng nhằm hạn chế tối đa những hậu quả đáng tiếc.



Các loại thuốc có chứa corticoid

Trước tiên là loại thuốc có chứa Corticoide gồm các chất Prednisolone, Dexamethasone (Dexa) hay beta-methasone v.v... Thuốc này được sử dụng rất phổ biến, dùng nguyên trạng hay pha vào các loại thuốc tễ, thuốc viên của thuốc bắc hay thuốc nam dùng để trị phong thấp. Do chứa corticoid nên các thuốc này giúp giảm đau rất nhanh nhưng tác dụng không lâu, do đó phải sử dụng liên tiếp và kéo dài, nếu ngưng thuốc, bệnh nhân sẽ bị đau lại. Ngoài ra khi sử dụng lâu dài, bệnh nhân sẽ bị phụ thuộc vào thuốc, không uống sẽ thấy người bải hoải, ăn ngủ không ngon, bị béo phì (do giữ nước) mặt và ngực tròn, trong khi tứ chi bị teo nhỏ do teo cơ, có thể bị loãng xương, làm xương dễ gãy và cuối cùng là bị biến chứng tiểu đường.

Nhóm kháng viêm không steroid

Loại thuốc thứ 2 được sử dụng phổ biến trong điều trị các bệnh khớp là nhóm kháng viêm không steroid. Nhóm này gồm nhiều chủng loại khác nhau do các gốc hóa học khác nhau. Loại kháng viêm không steroid cổ điển gây nhiều tác hại trên đường tiêu hóa như làm viêm loét nặng hơn, chảy máu hay thủng dạ dày tá tràng gây tiêu chảy; Có nhiều tác dụng phụ trên gan, thận và gây rối loạn đông máu. Gần đây, các nhà nghiên cứu dược đã tìm ra nhóm kháng viêm không steroid ức chế chuyên biệt COX2 ít gây hại hơn trên gan, thận và nhất là trên đường tiêu hóa.
Tuy nhiên những bệnh nhân có tiền căn bị viêm loét dạ dày tá tràng, các rối loạn về chức năng gan, thận và đông máu phải hết sức cẩn thận khi sử dụng.
Do thuốc điều trị thấp khớp có nhiều tác dụng phụ, vì vậy không nên sử dụng bừa bãi, nhất là ở những người có nguy cơ cao, như những bệnh nhân trên 60 tuổi, bệnh nhân có rối loạn đông máu, rối loạn chức năng gan thận, phụ nữ mang thai, đang cho con bú hay trẻ em dưới 13 tuổi.
Bệnh thấp khớp gồm nhiều bệnh khác nhau (hơn 50 bệnh). Khi bị đau ở khớp, bệnh nhân nên đến bác sĩ chuyên khoa để khám và có chẩn đoán chính xác trước khi điều trị. Các bệnh khớp đều bắt đầu với triệu chứng đau, do đó không nên sử dụng thuốc một cách bừa bãi, tự điều trị bằng thuốc bắc, thuốc nam hay các thuốc gia truyền hoặc tự ý mua thuốc, tự điều trị, dễ gây nhiều biến chứng khôn lường, lúc đó việc điều trị bệnh và nhất là điều trị các biến chứng sẽ khó khăn, tốn kém và thời gian điều trị sẽ kéo dài hơn.

Những thực phẩm dưới đây thực sự hữu ích cho người bị thấp khớp


1. Bắp cải
 thực phẩm cho người bị thấp khớp -1
Loại rau này giống như một chất bôi trơn, làm linh hoạt chuyển động các khớp. Thành phần bắp cải lại giàu vitamin C, K và đặc biệt, ăn nhiều bắp cải giúp da đẹp hơn mà không hề sợ tăng cân vì bắp cải chứa rất ít năng lượng.

Hơn thế, chất sunfua có trong bắp cải do có tác dụng chống nhiễm khuẩn và tăng lượng enzim chống ôxy hoá, đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải độc của gan nên cũng tốt cho người bệnh thấp khớp.

2. Cà chua
 thực phẩm cho người bị thấp khớp : cà chua
Cà chua tốt cho người bị thấp khớp nhờ hàm lượng lycopen và chất carotenoit chống ôxy hoá. Tuy nhiên, hãy cẩn thận với cà chua xanh vì trong thành phần của nó có chứa solanin- một ancaloit tương đối độc.

Một cốc nước ép cà chua chín mỗi ngày thực sự rất cần thiết cho việc bảo vệ sụn đấy!

3. Tỏi
 thực phẩm cho người bị thấp khớp : tỏi
Tỏi là nguồn bổ sung tự nhiên hydro sunfua có tác dụng chống ôxy hoá và tăng cường sự lưu thông máu. Trong thành phần của tỏi còn rất giàu kali, các nguyên tố vi lượng, vitamin và i-ốt.

Để bảo toàn cao nhất những tính năng tuyệt vời của tỏi, theo các chuyên gia, nên nghiền tỏi trước và để khoảng 15 phút trước khi cho vào nấu (mục đích giúp tạo ra các phản ứng enzym để tăng cường các hợp chất có tác dụng tốt đối với sức khoẻ trong tỏi).

4. Các loại rau thơm
 
Với các thành phần chống ôxi hoá, các loại rau thơm như hành, húng, mùi tây được khuyên dùng thường xuyên trong bữa cơm hàng ngày.

Cà rốt, rau diếp cũng là những thực phẩm được khuyên dùng cho người bệnh thấp khớp.

Viêm khớp dạng thấp là bệnh gặp nhiều trong những bệnh về khớp, bệnh thường kéo dài và đặc biệt là các di chứng có thể dẫn đến tàn phế. Đây là bệnh mọi người cần “coi chừng”.


Viêm khớp dạng thấp là bệnh viêm nhiễu khớp mạn tính tiến triển, thường dẫn đến dính khớp và biến dạng khớp.

1/ Nguyên nhân

Nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng, viêm khớp dạng thấp được coi là một bệnh tự miễn dịch với sự tham gia của nhiều yếu tố như nhiễm khuẩn hoặc di truyền.

2/ Triệu chứng và hậu quả

Người bệnh thường viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân cả hai bên. Những triệu chứng điển hình như:
- Sưng, đau các khớp nhỏ, nhỡ ( ngón gần, bàng ngón, cổ tay, khuỷu, cổ chân, gối) đối xứng ở tay và chân, thường đau nhiều về đêm hay gần sáng.
- Cứng khớp buổi sáng. Các hoạt động thường ngày như đánh răng, chải đầu có thể rất khó khăn vào sáng sớm và thường phải xoa bóp làm nóng để các khớp có thể cử động được. Cứng khớp thường kéo dài hơn một giờ.
- Các triệu chứng toàn thân, gồm: mệt mỏi, sụt cân, thỉnh thoảng sốt nhẹ.
Khi bị viêm, bệnh nhân có cảm giác cứng tại khớp, khó vận động vào buổi sáng. Tình trạng này kéo dài, có thể tới một vài giờ. Trong các đợt viêm như vậy, bệnh nhân thường thấy đau đớn, khó hoặc không vận động được khớp, có thể kèm theo các triệu chứng của các cơ quan khác (biểu hiện tim, mạch, phổi…), có thể sốt, kém ăn, suy kiệt. Sau nhiều đợt viêm khớp tiến triển như vậy (có thể một vài tháng hoặc một vài năm), các khớp có thể biến dạng. Bệnh nhân có thể tàn phế.

3/ Bệnh khó phòng

Bệnh viêm khớp dạng thấp là bệnh có yếu tố di truyền nên khó phòng tránh, song có thể tránh các đợt viêm khớp tiến triển bằng cách điều trị thuốc, tránh các yếu tố nguy cơ (hút thuốc lá cũng là một yếu tố nguy cơ…). Có một số giả thuyết cho rằng một số virus hay vi khuẩn phổ biến tác động vào yếu tố cơ địa thuận lợi (cơ thể suy yếu, mệt mỏi, chấn thương, phẫu thuật, mắc  bệnh truyền nhiễm hoặc yếu tố môi trường (lạnh ẩm kéo dài) làm khởi phát bệnh. Tránh được các yếu tố này có thể hạn chế được bệnh.

4/ Khó khỏi hẳn

Bệnh không thể nói là chữa khỏi hoàn toàn, song nếu điều trị sớm và đúng cách sẽ mang lại kết quả rất tốt, có thể phòng tránh dính khớp, biến dạng khớp. Người bệnh có thể có chất lượng cuộc sống gần như bình thường. Việc điều trị đòi hỏi phải kiên trì. Các thuốc và chế độ luyện tập phải được duy trì lâu dài. Tùy theo giai đoạn tiến triển của bệnh mà bác sĩ sẽ thay đổi liều thuốc và hướng dẫn chế độ luyện tập phù hợp. Do đó, việc tái khám hết sức quan trọng. Khi một khớp bị tổn thương nặng, gây đau nhiều và kéo dài… ảnh hưởng đến đời sống của người bệnh, có thể thay khớp nhân tạo.

5/ Chế độ dinh dưỡng

- Người bệnh nên có chế độ ăn cân đối. Không có chế độ ăn đặc biệt nào có thể làm giảm hoặc khỏi bệnh. Không cần kiêng các thực phẩm có chất tanh (cua, tôm…), trừ những người dị ứng với loại thực phẩm này.
- Nếu bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đang được dùng các loại thuốc có corticoid (cortison, prednisolon, medexa…), cần tránh các thức ăn có nhiều đường như bánh ngọt, chè… Trường hợp này cũng nên ăn hoặc uống cá chất có nhiều canxi như sữa và các sản phẩm của sữa (pho mát, sữa tươi, chua…) và nên ăn thức ăn giàu kali (chuối tiêu, rau cải, quả khô…).
- Người bệnh cũng cần duy trì cân nặng hợp lý vì béo phì làm cho các khớp phải chịu tải nhiều hơn và làm cho bệnh tăng lên.

6/ Một số lưu ý trong sinh hoạt

Người bệnh cần sử dụng các loại quần áo mềm dễ mặc, quần áo cài bằng khóa; sử dụng các loại nước uống đóng trong hộp dễ mở, cốc nhẹ, dụng cụ mở hộp dễ sử dụng; dùng thìa có cán dài và to; giày dép đi quai dán… nhằm tạo điều kiện và khuyến khích người bệnh vận động và tự phục vụ. Nhìn chung, nên cố gắng hoạt động trong điều kiện càng gần bình thường càng tốt. Khi các khớp bị biến dạng, nên học cách thích nghi với tình trạng bệnh, cần duy trì cơ lực và các động tác vận động của khớp ở các khớp chưa bị ảnh hưởng; không để xảy ra các biến chứng như: co cứng ơ các khớp chưa bị tổn thương, các tổn thương da và tình trạng ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch. Ngoài ra, cần tránh vận động quá mức ở các khớp tổn thương, tránh các động tác có thể gây ra hoặc làm đau khớp tăng lên.
Trong sinh hoạt hàng ngày, bệnh nhân tránh đứng hoặc ngồi quá lâu; giữ tư thế thẳng cân đối khi đứng, đi và ngồi. Dùng các ghế ngồi cao và có tay vịn giúp việc đứng lên dễ hơn. Khi nâng một vật nào đó, cần nâng bằng cả hai tay. Khi di chuyển đồ vật, nhất là vật nặng, nên đẩy, không nên nhấc lên.
Bệnh nhân cũng nên đi bộ hàng ngày, song cần nghỉ 5-10 phút sau mỗi giờ đi. Khi đi ngủ, nên nằm ngủ bằng lưng trên nệm chắc và đảm bảo ngủ đủ giấc. Tắm nước nóng trước khi đi ngủ hoặc buổi sáng có tác dụng giảm đau.

trong y học, tỏi được dùng vào mục đích chữa bệnh bằng nhiều cách khác nhau, như ăn sống, chế biến thức ăn, ngâm với rượu hoặc giấm.


Theo Đông y, tỏi có vị cay, tính ấm, có công dụng hành khí trệ, làm ấm tỳ vị, giải độc và sát trùng. Tỏi không chỉ là loại gia vị thông thường mà còn có công dụng chữa bệnh. Tỏi thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đầy bụng, chậm tiêu, rối loạn tiêu hóa, đau bụng do lạnh, phù thũng, tiêu chảy, lỵ, sốt rét, ho gà, mụn nhọt, đỉnh độc, viêm loét lâu liền, rụng tóc, nấm tóc, rắn cắn...
Trong y học, tỏi được dùng vào mục đích chữa bệnh bằng nhiều cách khác nhau, như ăn sống, chế biến thức ăn, ngâm với rượu hoặc giấm. Mỗi ngày ăn 10 gr tỏi sẽ giúp tăng cường khả năng giải độc cho cơ thể. Tỏi có tác dụng gần giống với thuốc kháng sinh; tăng sức đề kháng của cơ thể; giảm nguy cơ mắc các chứng bệnh do vi khuẩn, vi rút xâm nhập; là chất xúc tác giúp cho vết thương mau lành, hạn chế nguy cơ viêm nhiễm; chống lại các bệnh tim mạch; phòng và trị chứng cảm lạnh và cảm cúm rất hay.
Tỏi còn được dùng trong bệnh thấp khớp. Có thể làm như sau: dùng độ 40 gr tỏi (đã bóc sạch vỏ), cắt nhỏ cho vào lọ ngâm cùng với 100 ml rượu trắng (45 độ), ngâm trong 10 ngày, thỉnh thoảng lắc lọ, ban đầu chỉ có màu trắng, sau chuyển sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ. Ngày dùng 2 lần (sáng 40 giọt trước khi ăn sáng, và tối 40 giọt trước khi đi ngủ). Do lượng uống mỗi lần như thế rất ít, nên cần thêm nước chín để nguội vào để uống.
Lưu ý, không dùng tỏi trong trường hợp đang dùng thuốc trị bệnh đái tháo đường, hoặc đang dùng thuốc điều trị chứng máu loãng.
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -