Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Thoái hóa cột sống thắt lưng là bệnh mạn tính tiến triển từ từ tăng dần gây đau, hạn chế vận động, biến dạng cột sống thắt lưng mà không có biểu hiện viêm. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa sụn khớp và đĩa đệm cột sống phối hợp với những thay đổi ở phần xương dưới sụn, và màng hoạt dịch.




Bị đau đốt sống lưng là hậu quả của nhiều yếu tố: tuổi cao; nữ; nghề nghiệp lao động nặng; một số yếu tố khác như: tiền sử chấn thương cột sống, bất thường trục chi dưới, tiền sử phẫu thuật cột sống, yếu cơ, di truyền, tư thế lao động...

Điều trị

1.1. Nguyên tắc

* Điều trị theo triệu chứng (thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ...) kết hợp với các thuốc chống thoái hóa tác dụng chậm.
* Nên phối hợp các biện pháp điều trị nội khoa, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng. Trường hợp có chèn ép rễ có thể chỉ định ngoại khoa.

1.2. Điều trị cụ thể

 Vật lý trị liệu
Bài tập thể dục, xoa bóp, kéo nắn, chiếu hồng ngoại, chườm nóng, liệu pháp suối khoáng, bùn nóng, paraphin, tập cơ dựng lưng...
Điều trị nội khoa
* Thuốc giảm đau theo bậc thang giảm đau của WHO
+ Bậc 1 - Paracetamol (Paracetamol, Tylenol 8h...) 500mg/ngày uống 4 đến 6 lần, không quá 4gram/ngày. Thuốc có thể gây hại cho gan.
+ Bậc 2 - Paracetamol kết hợp với codein, với codein hoặc tramadol: Efferalgan -codein 2-4 viên/24h; Ultracet 2-4 viên/24h.
+ Bậc 3 - Opiat và dẫn xuất của opiat
* Thuốc chống viêm không steroid
Chọn một trong các thuốc sau. Lưu ý tuyệt đối không phối hợp thuốc trong nhóm vì không tăng tác dụng điều trị mà lại có nhiều tác dụng không mong muốn).
+ Diclofenac (Votaren) viên 50mg: 2 viên/ngày chia 2 hoặc viên 75mg, uống 1 viên/ngày sau ăn no. Có thể sử dụng dạng ống tiêm bắp 75 mg/ngày trong 2-3 ngày đầu khi bệnh nhân đau nhiều, sau đó chuyển sang đường uống.
+ Meloxicam (Mobic) viên 7,5mg:2 viên/ngày sau ăn no hoặc dạng ống tiêm bắp 15mg/ngày x 2 -3 ngày nếu bệnh nhân đau nhiều, sau đó chuyển sang đường uống.
+ Piroxicam (Felden) viên hay ống 20mg, uống 1 viên/ngày uống sau ăn no hoặc tiêm bắp ngày 1 ống trong 2-3 ngày khi bệnh nhân đau nhiều, sau đó chuyển sang đường uống.
+ Celecoxib (Celebrex) viên 200mg liều 1 đến 2 viên/ngày sau ăn no. Không nên dùng cho bệnh nhân có bệnh tim mạch và thận trọng ở người cao tuổi.
+ Thuốc chống viêm bôi ngoài da: voitaren emugel, profenid gel.
* Thuốc giãn cơ: Eperisone (myonal 50mg): 3 viên/ngày, hoặc Tolperisone (mydocalm 50mg): 2-6 viên/ngày.
* Thuốc điều trị triệu chứng tác dụng chậm
+ Glucosamine sulfate và chondroitin sulphat (Viartril-s 1500mg/ngày), dùng kéo dài.
+ Thuốc ức chế IL1: Diacerhein (artrodar 50mg) 1-2 viên/ngày.
* Tiêm corticoid tại chỗ: tiêm ngoài màng cứng bằng hydrocortison acetat trong trường hợp đau thần kinh tọa, tiêm cạnh cột sống, tiêm khớp liên mấu (dưới màn tăng sáng hoặc hướng dẫn của CT).
 Điều trị ngoại khoa
Chỉ định khi thoát vị đĩa đệm, trượt đót sống gây đau thần kinh tọa kéo dài, hoặc có hẹp ống sống với các dấu hiệu thần kinh tiến triển nặng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống mà các biện pháp điều trị nội khoa không kết quả.

2. Theo dõi và quản lý

* Theo dõi và phát hiện sớm các dị tật cột sống để điều trị kịp thời.
* Giáo dục tư vấn các bài tập tốt cho cột sống, sửa chữa các tư thế xấu.
* Định hướng nghề nghiệp thích hợp với tình trạng bệnh, kiểm tra định kỳ những người lao động nặng (khám phát hiện triệu chứng, chụp Xquang cột sống khi cần...)

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Bệnh viêm khớp dạng thấp là căn bệnh thường gặp ở phụ nữ với những triệu chứng điển hình ở vùng khớp. Cách chăm sóc bệnh viêm khớp dạng thấp sẽ giúp chúng ta giảm bớt được những phiền toái do bệnh gây ra



Nguyên nhân gây viêm khớp dạng thấp?
Hệ thống miễn dịch của cơ thể chúng ta gồm nhiều loại tế bào khác nhau giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây hại như virus, vi khuẩn, nấm, v.v. Ở những bệnh nhân Viêm khớp dạng thấp, hệ thống miễn dịch hoạt động quá mức, tự tấn công, chống lại các tế bào và các cơ quan của cơ thể, dẫn tới các biểu hiện của bệnh.
Do đặc điểm này, Viêm khớp dạng thấp được xếp vào nhóm bệnh tự miễn, tức cơ thể tự tạo kháng thể chống lại các thành phần trong cơ thể.
Chính xác nguyên nhân nào khiến hệ miễn dịch rối loạn và bắt đầu tấn công các mô khỏe mạnh trong Viêm khớp dạng thấp vẫn chưa được biết rõ.
Tuy nhiên một số yếu tố được tìm thấy có vai trò quan trọng trong bệnh sinh của Viêm khớp dạng thấp, như yếu tố môi trường và di truyền. Các nghiên cứu tìm thấy có mối tương quan giữa Viêm khớp dạng thấp với một số tác nhân gây bệnh như vi trùng hoặc virus.
Ai là dễ bị mắc bệnh?
Khoảng 0,5% đến 1,5% dân số trên thế giới bị Viêm khớp dạng thấp. Viêm khớp dạng thấp có thể xảy ra ở tất cả các chủng tộc và tất cả các lứa tuổi, tuy nhiên lứa tuổi thường bị bệnh nhiều nhất là 30-50. Nữ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nam gấp 2 tới 3 lần.
Viêm khớp dạng thấp có khi khó phát hiện vì bệnh có thể bắt đầu bằng những triệu chứng mơ hồ, như đau nhức khớp hoặc cứng khớp vào buổi sáng. Tuy nhiên, nhiều bệnh viêm khớp khác cũng có thể có triệu chứng tương tự.
X-quang khớp thường không tìm thấy triệu chứng bất thường trong giai đoạn đầu của bệnh. Không thể chẩn đoán Viêm khớp dạng thấp dựa trên một triệu chứng lâm sàng, hoặc một kết quả xét nghiệm, mà phải là tổng hợp của tất cả các yếu tố đã nêu trên.
Vì vậy cần thiết phải có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa để có được chẩn đoán chính xác của Viêm khớp dạng thấp và có kế hoạch điều trị phù hợp.
 Bệnh viêm khớp dạng thấp
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh khớp mạn tính, đồng thời cũng là một bệnh lý tự miễn với các biểu hiện tại khớp, ngoài khớp và toàn thân, ở nhiều mức độ khác nhau, diễn biến phức tạp, gây hậu quả nặng nề, cần được điều trị tích cực ngay từ đầu. Bệnh tuy ít khi trực tiếp làm chết người nhưng làm giảm chất lượng của cuộc sống, bệnh gắn liền với đau đớn, mất sức, tật nguyền, trầm cảm và mất việc làm.
Biểu hiện đặc trưng của bệnh là hiện tượng viêm màng hoạt dịch “bào mòn” ở các khớp ngoại biên, đối xứng hai bên, diễn biến kéo dài, tiến triển từng đợt, có xu hướng tăng dần, dẫn đến tổn thương sụn khớp và đầu xương gây dính khớp, biến dạng khớp và mất chức năng vận động của khớp.
Bệnh thường khởi phát từ từ, tăng dần nhưng đôi khi cũng tiến triển rất nhanh. Vị trí bắt đầu thường ở các khớp nhỏ ở hai bàn tay, sau đó ảnh hưởng tới các khớp khác như khớp gối, khớp cổ chân, khớp khuỷu tay, khớp vai, khớp háng…
Các triệu chứng thường gặp của bệnh là cứng khớp buổi sáng (gây khó cư động các khớp vào buổi sáng lúc mới ngủ dậy, kéo dài hàng giờ), hiện tượng sưng, đỏ, nóng, đau các khớp nhỏ đặc biệt ở bàn tay như cổ tay, bàn ngón tay, các ngón tay, bàn ngón chân và khớp gối, đối xứng hai bên và kèm theo các dấu hiệu toàn thân như sốt, mệt mỏi, xanh xao, gầy sút.
Diễn biến của bệnh rất khác nhau với từng người bệnh, thường qua hai giai đoạn:
Diễn biến của bệnh rất khác nhau với từng người bệnh, thường qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu thường kéo dài 1 – 2 năm: biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau, hạn chế vận động các khớp do hiện tượng viêm màng hoạt dịch của khớp. Bệnh diễn biến từng đợt, nhưng chưa để lại di chứng gì đáng kể tại khớp sau mỗi đợt viêm, chưa ảnh hưởng nhiều tới toàn cơ thể người bệnh.
- Giai đoạn sau (giai đoạn muộn): bắt đầu xuất hiện tổn thương bào mòn ở sụn khớp và đầu xương (biểu hiện trên phim Xquang) do hậu quả của hiện tượng viêm màng hoạt dịch. Các tổn thương này một khi đã xuất hiệnthì không thể mất đi. Nếu không được điều trị, các tổn thương sụn khớp và đầu xương ngày càng nặng nề làm khe khớp dần dần hẹp lại, các đầu xương dính với nhau gây biến dạng khớp, dính khớp, cứng khớp và mất khả năng vận động của khớp. Lúc này bệnh thường ảnh hưởng tới toàn cơ thể người bệnh: sốt, xanh xao, mệt mỏi, suy nhược, chán ăn, gầy sút…
Cách chăm sóc bệnh viêm khớp dạng thấp
Cach-cham-soc-benh-viem-khop-dang-thap1
* Làm giảm đau và giảm khó chịu cho bệnh nhân:
- Vị trí và tư thế bệnh nhân: Để bệnh nhân và các khớp viêm ở tư thế thích hợp giúp bệnh nhân đỡ đau, dễ chịu.
- Bất động và nghỉ ngơi: Làm giảm đau, giải phóng cho khớp khỏi sức nặng của cơ thể.
- áp dụng nhiệt trị liệu:
+ Chườm nóng: Có tác dụng giảm đau, giảm viêm và co cơ.
Phương pháp: tắm hơi nóng, chườm nóng, đắp parafin.
+ Chườm lạnh: Một số bệnh nhân đau khi chườm nóng thì chườm lạnh.
Phương pháp: chườm bằng túi đá.
- Phương pháp trợ giúp: Như nạng, thanh nẹp, dùng để chống đỡ và cố định khớp ở tư thế cơ năng.
- Hướng dẫn người bệnh sử dụng thuốc giảm đau: Diclophenac, Cocticoit…
Tất cả các thuốc chữa VKDT đều gây nhiều tác dụng phụ, gây nhiều tai biến nên phải theo dõi và tránh lạm dụng thuốc.
* Tăng cường khả năng vận động của khớp và hoạt động của cơ thể:
- Điều dưỡng viên phải hướng dẫn bệnh nhân vận động sớm khi khớp đã giảm đau nhiều, đòi hỏi phải luyện tập vận động, xoa bóp sớm và thường xuyên để làm tăng sức mạnh của cơ tránh teo cơ, cứng khớp.
- Hướng dẫn và giúp đỡ bệnh nhân tự  chăm sóc một cách độc lập.
- Hướng dẫn bệnh nhân tự thực hiện một số công việc như: Tự chải đầu, tự xúc ăn, tắm rửa…)
* Tăng cường niềm lạc quan tinh thần cho bệnh nhân:
Bệnh nhân bị VKDT hay lo sợ buồn rầu bi quan, hoặc cáu kỉnh nên điều dưỡng cần kết hợp cùng gia đình bệnh nhân hiểu và thông cảm cho bệnh nhân, cổ vũ động viên niềm lạc quan tin tưởng, khuyên bệnh nhân chịu khó tập luyện để tránh tàn phế.
* Đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân:
- Bệnh nhân VKDT thường chán ăn, mệt mỏi và thiếu máu nhẹ… nên giúp đỡ họ bằng biện pháp sau:
- Hướng dẫn cho bệnh nhân biết cách lựa chọn thức ăn để cung cấp nhiều năng lượng: như chọn thực phẩm nhiều Protein, rau quả tươi, các Vitamin, sắt để giúp phục hồi tổ chức.
- Động viên bệnh nhân ăn nhiều nếu bệnh nhân không quá béo.
- Khuyên bệnh nhân ăn làm nhiều bữa nhỏ, ăn những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao: thịt nạc, trứng, sữa…
- Đối với bệnh nhân quá béo, cần hướng dẫn ăn giảm năng lượng để giảm cân nhằm giảm gánh nặng cho khớp, tránh làm tổn thương thêm cho khớp.
4.4. Đánh giá chăm sóc:
Những kết quả mong muốn ở bệnh nhân là:
- Hết đau các khớp.
- Bệnh nhân hiểu về bệnh và an tâm tin tưởng vào điều trị.
- Biết cách luyện tập vận động để tránh tàn phế.

Ngày nay, bệnh thoái hóa khớp không chỉ là căn bệnh của người lớn tuổi mà có thể sẩy ra với mọi lứa tuổi, chủ yếu là ở nữ giới . Triệu chứng điển hình bệnh thoái hóa khớp thường biểu hiện rõ rệt nhất ở cổ, lưng, đầu gối, háng


Nguyên nhân gây bệnh thoái hóa khớp



Thoái hóa khớp là hiện tượng khớp bị tổn hại (xơhóa, biến dạng, vôi hóa…) có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng có 2 loại nguyên nhân chính:

Nguyên nhân nguyên phát: là nguyên nhân hay gặp ở những người tuổi cao. Tuổi càng cao thì hiện tượng lão hóa các cơ quan càng mạnh, trong đó có khớp xương. Có nhiều yếu tố thuận lợi gặp ở người cao tuổi bị THK xương như: tình trạng béo phì, di truyền, có chấn thương nhẹ nhưng thường hay xảy ra ở khớp.

Nguyên nhân thứ phát: xảy ra sau viêm khớp dạng thấp, viêm khớp do nhiễm trùng (do vi khuẩn lao, vi khuẩn mycoplasma, vi khuẩn lậu…). Một số trường hợp do trong tiền sử có chấn thương mạnh tại khớp như: bị ngã, tai nạn lao động, tai nạn trong chơi thể thao (bóng đá, bóng chuyền…). Ngoài ra, người ta cũng nhắc đến nguyên nhân tự miễn cũng có vai trò nào đó trong THK ở người cao tuổi. Người ta cho rằng, người trên 40 tuổi hay gặp THK có lẽ ở chừng mực nào đó có liên quan đến yếu tố tự miễn, cũng giống như trong viêm đa khớp dạng thấp, người ta thấy có các tự kháng thể thuộc loại globulin to kiểu IgM có tính đặc hiệu cao.

Trieu-chung-dien-hinh-benh-thoai-hoa-khop2

Biểu hiện của thoái hóa khớp

Triệu chứng điển hình bệnh thoái hóa khớp

Bệnh khởi phát từ từ, ban đầu có dấu hiệu cứng khớp song hiếm khi kéo dài quá 15 phút. Sau đó xuất hiện đau khớp, tăng lên khi vận động kéo dài và giảm khi nghỉ ngơi. Biến dạng khớp thường không có hoặc rất nhẹ, tuy nhiên đôi khi thấy phì đại xương rõ. Tình trạng co gấp hoặc biến dạng khớp gối, ít gặp. Bệnh không gây dính khớp song thường gây hạn chế vận động khớp, đôi khi người bệnh cảm thấy tiếng lạo xạo trong khớp. Tràn dịch khớp và những biểu hiện viêm khớp khác thường nhẹ. Không có triệu chứng toàn thân.

Xét nghiệm: tốc độ lắng máu không tăng, các xét nghiệm viêm thường bình thường. Trên Xquang có biểu hiện hẹp khe khớp, các rìa của diện khớp thường nhọn, mọc gai ở đầu xương, đặc xương dưới sụn. Ngoài ra có thể thấy các hốc nhỏ ở đầu xương.

Khớp nào cũng có thể bị tổn thương thoái hóa nhưng thông thường nhất là thoái hóa khớp háng, khớp gối và khớp cột sống. Hai triệu chứng biểu hiện của thoái hóa khớp là đau tại khớp bị thoái hóa và cứng khớp vào buổi sáng. Mỗi khớp thoái hóa có những triệu chứng khác nhau:

- Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, khi mới ngủ dậy, kéo dài không quá 30 phút. Một thời gian sau, đau lưng sẽ kéo dài cả ngày, tăng khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, thường ảnh hưởng đến thần kinh tọa làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống.

- Cột sống cổ: Rất hay gặp ở người trên 40 tuổi. Biểu hiện chủ yếu bằng đau cơ hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh khi khám thấy các cử động tại cổ đều bị hạn chế nhất là động tác nghiêng bên. Chụp Xquang tổn thương thường ở đốt cổ 5 và cổ 6, giữa cổ 6 và cổ 7, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.

- Khớp gót chân: Bệnh nhân có cảm giác thốn ở gót vào buổi sáng mới ngủ dậy, khi đi những bước đầu tiên, sau vài chục mét thì giảm đau và đi đứng bình thường.

- Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo, lụp cụp khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động; nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối. Trong một số trường hợp màng hoạt dịch có thể bị viêm dày lên, khi ấn vào xương bánh chè đồng thời gấp chân lại, có thể gây đau nhói và một tiếng rắc. Đây cũng chính là biểu hiện chứng tỏ có tổn thường khớp đùi – bánh chè. Thoái hóa khớp gối thường có khuynh hướng nặng lên dần. Do đau nên ảnh hưởng nhiều đến mọi hoạt động.

- Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn do đau ngay từ đầu, vì khớp này gánh trọng lượng cơ thể nhiều nhất. Đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi. Cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi, dễ nhầm với đau dây thần kinh hông to. Đau xuất hiện khi đi, do đó hạn chế việc đi lại biểu hiện bằng việc đi khập khiễng. Nằm nghỉ thì hết đau, những trường hợp thoái hóa khớp nặng, đau cả ban đêm, lúc nghỉ và có thể gặp teo cơ đầu đùi. Bệnh không tự khỏi mà tiến triển từ từ có thể dẫn đến cứng khớp không hoàn toàn.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Điều trị bệnh gut hiện nay có nhiều cách. Các bác sĩ của phòng khám đa khoa Năm Châu cho biết: những cách điều trị bệnh gut hiện nay không chỉ đơn thuần là một mà là sự kết hợp  của nhiều phương pháp: thông thường cũng như mới lạ.

 
 
Các cách điều trị bệnh gut thông thường?
 
 
Biện pháp thông thường chưa thể điều trị dứt điểm bệnh gut, nhưng nó có thể được giảm nhẹ thông qua một loạt các phương pháp điều trị. Các bác sĩ thường kê đơn thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) như ibuprofen để giữ cho tình trạng viêm và đau dưới sự kiểm soát. Corticosteriods có thể có một ảnh hưởng tương tự, chúng được quản lý thông qua thuốc hoặc tiêm. Ngoài ra còn có loại thuốc có thể làm giảm nồng độ acid uric, là tốt nhất được biết đến có lẽ là allopurinol (Zyloprim). Tất cả các biện pháp này chỉ nên được sử dụng như một phương sách cuối cùng, như tất cả đều mang nguy cơ tác dụng phụ đáng kể.
 
 

 
Giảm axit uric là biện pháp cho điều trị bệnh gut
 
 
Những phương pháp điều trị mà các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu khuyên cho bệnh gút?
 
 
Giống như rất nhiều bệnh, bệnh gút có thể một tạo ra do tác động của viêm và thói quen của lối sống, có nghĩa là sau một chế độ ăn uống chống viêm và làm cho những thay đổi trong lối sống sẽ giúp bạn tránh khỏi căn bệnh dai dẳng này. Sau đây là những điều cần nhấn mạnh trong điều trị bệnh gut
 
 
-Tránh các loại thịt có nguồn đặc biệt phong phú của acid uric như thịt nội tạng, cá mòi và cá cơm. Các bác sĩ sử dụng để tư vấn cho cắt giảm thức ăn thực vật giàu purine như đậu lăng , đậu Hà Lan , đậu, nấm, súp lơ, rau bina, tuy nhiên, nghiên cứu gần đây cho thấy có sự tương quan giữa việc ăn các loại thực phẩm như vậy và tỷ lệ của các cuộc tấn công bệnh gút.
 
-Loại bỏ cà phê và tất cả các nguồn caffeine khác từ chế độ ăn uống.
 
 
-Giảm thiểu tiêu thụ rượu. Rượu thúc đẩy tình trạng mất nước và gây kích thích đường tiết niệu.
 
 
 khong-uong-ruou
 
Không uống rượu khi đang điều trị bệnh gut
 
 
-Uống bổ sung đầy đủ  nước mỗi ngày để giải tỏa  acid uric ra khỏi hệ thống và ngăn chặn lắng đọng tinh thể urat.
 
 
-Nếu bạn đang thừa cân, hãy giảm cân nhưng không nên giảm quá mức.
 
 
giam-can
 
Giảm cân an toàn khi bạn trong tình trạng thừa cân
 
 
-Ăn anh đào chát dưới mọi hình thức – tươi, hoặc dùng nước cốt dâu tây, hoặc ở dạng chiết xuất anh đào chua. Phát hiện trong phòng thí nghiệm tại Đại học bang Michigan cho thấy rằng ăn một lương tương đương với 20 quả anh đào chua,giúp ức chế enzyme được gọi là cyclooxygenase-1 và -2, đó là mục tiêu của các thuốc kháng viêm.
 
 
cherry-anh-dao 
 
Anh đào có những enzym tốt cho điều trị bệnh gut
 
 
-Bổ sung bromelain, một hợp chất của các enzym tiêu hóa và các hợp chất khác được chiết xuất từ thân cây dứa.
 
 
Đó là tất cả những gì bạn cần nhớ và hãy có những cuộc trao đổi với bác sĩ của mình để đưa ra một chế độ thích hợp cho quá trình điều trị bệnh gut của mình.
 
 
Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666  hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.
 
Chúc bạn thành công!

Hiện nay có nhiều cách điều trị bệnh gut,dựa trên nhiều biện pháp khác nhau.  Phòng khám đa khoa Năm Châu sẽ giới thiệu một biện pháp mới gọi là :Liệu pháp thay thế. Hai liệu pháp thay thế trong cách điều trị bệnh gut hiện nay thường dùng là:
 

 
Thuốc thảo dược: Các loại thảo mộc có thể chống lại chứng viêm và làm sạch các độc tố từ các khớp. Móng gốc của củ gừng, lá meadowsweet và flowertops, và vỏ cây liễu trắng tất cả đều hoạt động như các chất chống viêm có thể làm giảm đau. (Trong thực tế, aspirin có chứa một chất hóa học là phiên bản tổng hợp của một chất được tìm thấy trong meadowsweet và cây liễu.) Thảo dược hữu ích khác bao gồm boswellia (trầm hương), ớt (ớt cayenne), Feverfew, và cam thảo.
 
 

 
Cam thảo là một loại thảo dược giúp bạn chống lại gut
 
 
Một loại cỏ cây có thể kê toa thuốc này để giảm đau khớp.Trong một ấm trà hoặc một món ăn, kết hợp móng gốc 1/2 muỗng cà phê bột củ gừng với 1 chén nước sôi. Khuấy và để trong 10 phút. Uống 1 cốc mỗi ngày.
 
 
Tâm trí và y học cơ thể:Một số yếu tố bên cạnh các phản ứng viêm của các mô ảnh hưởng đến rất nhiều quá trình viêm khớp loại đau, bao gồm cả thái độ của một người đối với điều kiện, mức độ cảm xúc buồn khổ, và khả năng để đối phó. Nhiều tâm trí và kỹ thuật cơ thể, chẳng hạn như thư giãn và thiền định tiến bộ, có thể dẫn đến giảm nhẹ đau đớn.
 
 
Đây là một kỹ thuật thư giãn đơn giản có thể giảm đau và có thể làm giảm tình trạng viêm.
 
 
Mặc quần áo rộng rãi, ngồi hay nằm xuống trong một tư thế thoải mái. Bắt đầu hít thở sâu và chậm. Với mỗi hơi thở, mời một phần khác của cơ thể của bạn để thư giãn. Hãy tưởng tượng mỗi hơi thở hít như ánh sáng đi cho các khớp của cơ thể và thở ra hơi thở mỗi khi cơn đau chảy ra khỏi khớp xương của bạn.
 
 
Tiếp tục chậm, hít thở sâu cho đến khi bạn cảm thấy thoải mái.Khi bạn đã sẵn sàng, từ từ trở lại tốc độ bình thường của bạn và nhịp thở và mở mắt ra từ từ.
 
 
Nhà bếp của bạn có thể có nhiều biện pháp khắc phục có thể giúp ngăn ngừa hoặc rút ngắn một cuộc tấn công bệnh gút. Bạn có thể can thiệp và quá trình chữa trị bằng chình thưc đơn ăn uống của mình,điều đó là vô cùng quan trọng và đơn giản nhưng kết quả là điều bạn không cần bàn cãi.Những vấn đề về thực phẩm đã được  phòng khám đa khoa Năm Châu đề cập đến trong những bài viết trước,bạn có thể tham khảo và kết hợp với hai liệu pháp thay thế trên để có cách điều trị bệnh gut hoàn thiện hơn.
 
 
Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666  hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013



Biến chứng bệnh gút
Một số bệnh nhân bị Gút tiến triển đến viêm khớp mạn tính, dẫn đến biến dạng khớp, hủy hoại khớp. Lột số ít có thể bị sỏi thận hoặc nặng hơn nữa là suy thận.




Điều trị bệnh gút

Thuốc kháng viêm không dùng làm giảm đau, kháng viêm trong các cơn Gút cấp tính. Tuy nhiên hãy cẩn thận với các thuốc này và tham vấn ý kiến bác sĩ của bạn cụ thể cách dùng và thời gian dùng (thường chỉ nên dùng từ 3-10 ngày), vì nếu dùng để trị bệnh gút kéo dài chúng có thể gây các biến chứng như viêm loét và xuất huyết dạ dày tá tràng.

Trước bối cảnh đó, ngày càng có nhiều bệnh nhân lựa chọn nhóm sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên không gây tác dụng phụ khi sử dụng lâu dài, trong đó Hoàng Thống Phong dẫn đầu cho nhóm sản phẩm này. Hoàng Thống Phong với thành phần chính là trạch tả có tác dụng thanh nhiệt giải độc, giúp đào thải axit uric và các chất độc hại ra khỏi cơ thể, đồng thời kết hợp với các vị thuốc ba kích, nhàu, thổ phục linh, hoàng bá…giúp giảm đau, giảm sưng khớp, tăng cường chức năng gan thận, đào thải axit uric và các chất độc hại ra khỏi cơ thể, từ đó tạo nên một bài thuốc y học cổ truyền giúp dự phòng và hỗ trợ điều trị bệnh gút một cách hiệu quả sau mỗi đợt sử dụng từ 3 đến 6 tháng.

Phòng ngừa bệnh gút

Hiện chưa có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa sự khởi phát và tái phát của các cơn gút. Nếu bạn bị bệnh Gút, bác sĩ của bạn sẽ cho bạn dùng một số thuốc giúp ngăn ngừa hoặc làm giảm thiểu độ nặng của các cơn tái phát sau này. Các thuốc này gồm có Allopurinol (Zylopric) và probenecid (Benemid), dùng hàng ngày giúp giảm nồng độ và tốc độ sản xuất axit uric. Việc duy trì nồng độ axit uric ổn định ở giới hạn bình thường là cách ngăn ngừa bệnh Gút lâu dài và hiệu quả nhất.

Tự chăm sóc bản thân khi bị bệnh gút

Thay đổi lối sống không thể điều trị bệnh Gút, nhưng rất hữu ích để hỗ trợ điều trị. Các biện pháp sau giúp giảm và ngăn ngừa triệu chứng :

- Giảm béo. Duy trì cân nặng hợp lý bằng cách giảm cân từ từ giúp giảm nồng độ axit uric máu, đồng thời giảm bới sự chịu đựng sức nặng của các khớp. Không nên nhịn đói để giảm cân nhanh vì như vậy càng làm tăng axit uric máu.

- Tránh ăn quá nhiều đạm động vật. Đây là nguồn chứa nhiều purin. Các thực phẩm chứa nhiều purin như tạng động vật (gan, thận, não, lách), cá trồng, cá trích, cá thu,...các loại thịt, cá, gia cầm chứa ít purin hơn.

- Giới hạn hoặc tránh rượu. Nếu bạn đang bị bệnh Gút, tốt nhất nên tránh hoàn toàn rượu bia. Uống quá nhiều rượu làm giảm bài tiết axit uric. Giới hạn dưới hai cốc mỗi ngày nếu bạn là nam, môt cốc nếu bạn là nữ.

- Uống nhiều nước (đảm bảo khoảng 2-3 lít nước/ ngày), hoặc uống thêm nước khoáng chứa kiềm (nước sô đa).

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia phòng khám đa khoa Năm Châu. Nếu bạn vẫn còn những thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu trị căn bệnh này nhanh chóng, hiệu quả, bạn có thể đăng ký qua mạng để được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0439 630 666 hoặc nhận tư vấn online. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng lòng cùng bạn và người thân chăm sóc sức khỏe.

Người cao tuổi phải đối đầu với vấn đề giảm sút sức khỏe và có nguy cơ mắc khá nhiều bệnh lý, đặc biệt là bệnh loãng xương.


Nguyên nhân hoặc yếu tố nguy cơ gây loãng xương
Bệnh loãng xương thông thường do một số nguyên nhân gây nên như: Suy giảm hormone sinh dục gặp ở phụ nữ tuổi mãn kinh; do chế độ ăn không cung cấp đủ canxi hoặc cơ thể không hấp thu được canxi như ăn uống kiêng cữ kéo dài, chế độ ăn nghèo nàn, kém chất lượng; do mắc 1 trong các bệnh hoặc yếu tố nguy cơ: bệnh tuyến thượng thận, cường giáp trạng, suy thận mãn tính, bệnh yếu liệt chi hoặc do chấn thương phải nằm bất động lâu dài; do lạm dụng thuốc có corticoid trong thời gian dài...

bệnh xương khớp yếu tố gây loãng xương
 Bổ sung thêm canxi từ sữa.
Triệu chứng

Quá trình bệnh loãng xương diễn ra âm thầm và có thể trong suốt một giai đoạn dài, người bệnh không có triệu chứng gì. Tuy nhiên, khi có triệu chứng thì thường là bệnh đã nặng. Đau cột sống lưng hoặc thắt lưng cấp tính, xảy ra do nén cột sống đột ngột sau một gắng sức nhẹ. Lún đốt sống, gù còng, nứt hoặc gãy cổ xương đùi, xương cẳng tay, cổ tay xảy ra sau một va chạm mạnh hay chấn động nhẹ...
Loãng xương làm giảm chất lượng cuộc sống
Giảm mật độ xương và loãng xương có thể gây đau lưng, đau chân tay, các khớp và mỏi bại hông và dễ dàng bị gãy xương do té ngã. Mỗi 30 giây, trên thế giới có 1 người bị gãy xương do loãng xương. Người ta dự đoán đến năm 2050, các nước châu Á trong đó có Việt Nam sẽ chiếm 50% trường hợp tàn phế hoặc đe dọa tính mạng do gãy khớp háng vì loãng xương trên thế giới. Người cao tuổi bị gãy xương dễ tử vong và mắc nhiều bệnh sau gãy xương như: viêm đường hô hấp, tiết niệu, tiêu hóa... và bị di chứng phải có người trợ giúp suốt đời.
Giảm mất xương bằng các biện pháp sau
Tăng thêm thứuc ăn giàu canxi: việc bổ sung canxi vào thức ăn hoặc sử dụng nguồn thức ăn giàu canxi (như sữa và các chế phẩm từ sữa…) là rất cần thiết. Người cao tuổi cần nhiều lượng canxi hơn người trẻ, vì độ hấp thu của họ kém hơn. Lượng protein trong khẩu phần ăn hàng ngày nên vừa phải, vì ăn nhiều protein sẽ làm tăng bài xuất canxi theo nước tiểu.
Ăn thêm nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen thực vật (như giá đỗ…), vì chúng có tác dụng làm thay đổi sự chuyển hóa của xương: chúng làm giảm tốc độ mất xương và làm tăng khoáng chất trong xương.
Phải tăng cường thời gian hoạt động (hoặc tắm nắng…) để tăng tổng hợp vitamin D trong cơ thể.
Hoạt động thể lực vừa phải, không nghiện rượu và duy trì cân nặng hợp lý vì gầy cũng là một yếu tố nguy cơ của bệnh loãng xương.
Đặc biệt ở phụ nữ giai đoạn mãn kinh có thể dùng liều estrogen (theo chỉ dẫn của bác sĩ) để phòng loãng xương hoặc dùng canxitone thay thế, vì nó ức chế hoạt động của tế bào tiêu xương và ngăn cản chất xương bị hấp thụ.
Làm thế nào để phát hiện sớm loãng xương
Trong điều kiện hiện nay có thể làm 2 xét nghiệm là:
- Chụp X-quang sống và xương tay chân. Đây là xét nghiệm rẻ tiền và dễ thực hiện ở cơ sở y tế nào cũng có.
Nhưng có hạn chế là khi thấy được loãng xương trên phim X-quang thì bệnh đã trong giai đoạn muộn, xương đã bị mất khá nhiều.
- Xét nghiệm do mật độ xương giúp đánh giá được khối lượng xương có thể phát hiện loãng xương sớm hơn.
Ngoài ra, để khảo sát bệnh hoặc tìm nguyên nhân bác sĩ cũng cần làm thêm nhiều xét nghiệm khác

Nhưng cũng có thể bạn không để ý đến những món ăn có trong thực đơn hằng ngày của mình lại làm tăng nguy cơ loãng xương.


Có thể bạn biết rằng canxi và vitamin D rất cần thiết giúp cho xương chắc khỏe. Bạn có biết rằng có những loại thực phẩm làm tăng nguy cơ bị loãng xương? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu làm thế nào để điều chỉnh chế độ ăn của mình để phòng tránh nguy cơ loãng xương.
Quá nhiều protein có thể làm loãng xương
Bạn cần protein để xương chắc khỏe nhưng khi bạn ăn quá nhiều protein, cơ thể sẽ sản xuất ra chất hóa học có tên là sunfat có thể gây ra sự thất thoát canxi của xương. Protein động vật có nguy cơ ảnh hưởng cao hơn protein thực vật. Theo cuộc khảo sát của Khoa Y học, thuộc trường Đại học Harvard ở 116.686 phụ nữ trong mười năm đã cho thấy những phụ nữ ăn thịt màu đỏ ít nhất 5 lần/tuần có nguy cơ bị gãy xương cao hơn những người ăn 1 lần/tuần.

Đồ uống chứa cafein
Trong một nghiên cứu gần đây trên 31.527 phụ nữ Thụy Điển trong độ tuổi từ 40 đến 76 do Cục Quản lí Thực phẩm Quốc gia Thụy Điển tiến hành, các nhà nghiên cứu đã thấy rằng những phụ nữ uống 330mg cafein mỗi ngày tương đương với bốn tách cà phê tăng nguy cơ gãy xương hơn những người khác. Đặc biệt điều này còn ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ canxi của cơ thể. Các nhà nghiên cứu không tìm ra được sự liên hệ giữa trà và tăng nguy cơ gãy xương. Lí do có thể là cafein trong trà chỉ bằng một nửa ở cà phê.
Theo nghiên cứu đo mật độ khoáng xương trong xương sống và hông của 1413 phụ nữ và 1125 nam giới tại Framingham theo mức độ tiêu thụ nước giải khát của họ. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng đồ uống có ga và các loại cà phê khác cũng có thể gây ra loãng xương. Theo nhà nghiên cứu dinh dưỡng và điều phối viên Kristine Cuthrell, Trung tâm nghiên cứu ung thư thuộc trường Đại học Hawaii tại Honolulu: “Lượng phốt pho trong nước ngọt có ga có thể làm giảm khả năng hấp thụ canxi”.

Dẫn xuất của vitamin A – retinol
Các nhà nghiên cứu khoa Y trường Đại học Harvard cho biết những phụ nữ ăn những thực phẩm cung cấp  3000 microgram (mcg) vitamin A mỗi ngày có nguy cơ bị gãy xương hông gấp hai lần so với những người chỉ có 1500 mcg hoặc ít hơn mỗi ngày. Mặc dù vitamin A cần thiết cho sự phát triển xương nhưng nếu quá nhiều retino – một dẫn xuất của vitamin A sẽ làm giảm khả năng hấp thụ vitamin D, dẫn đến loãng xương. Retinol có trong các thực phẩm như gan, lòng đỏ trứng gà, các sản phẩm sữa. Dạng beta carotene của vitamin A có trong khoai lang và cà rốt không gây tác đọng tiêu cực đến sự phát triển của xương.
 
Các yếu tố khác làm tăng nguy cơ loãng xương
- Natri: Quá nhiều natri trong thức ăn hằng ngày sẽ khiến canxi bị bài tiết ra ngoài thông qua nước tiểu và mồ hôi. Natri có trong muối ăn và các thực phẩm chế biến nhiều lần.
 
- Muối oxalat: Có thể ngăn cản hấp thụ canxi oxalat và canxi trong cùng một thực phẩm. Rau chân vịt, cây đại hoàng và khoai lang ngọt có chứa oxalat. Mặc dù những thực phẩm này có vai trò quan trọng trong một chế độ ăn lành mạnh nhưng không thể coi chúng là nguồn cung cấp canxi. Nhưng may thay oxalat cũng không cản trở việc hấp thụ canxi từ các loại thức ăn khác cho dù lúc đó có ăn cùng với các thực phẩm chứa oxalat.
 
- Bột lúa mì: Thực phẩm duy nhất làm giảm sự hấp thụ canxi khi ăn cùng thời điểm với thức ăn chứa canxi là bột lúa mì. Do vậy nếu bạn muốn bổ sung canxi thì nên ăn các loại thức ăn làm từ bột lúa mì khoảng trước hoặc sau hai, ba giờ khi ăn thực phẩm cung cấp canxi.
 
- Rượu: Uống quá nhiều đồ uống có cồn cũng có liên quan đến việc loãng xương vì nó cản trở việc hấp thụ canxi và vitamin D. Để giảm nguy cơ loãng xương, bạn chỉ nên uống một ly mỗi ngày.

Cân bằng lượng trái cây và rau củ
 
Cũng theo Cuthrell, ăn ít trái cây, rau củ và ăn nhiều chất đạm và cacbohydrate sẽ dẫn đến việc nhiễm axit nhẹ, qua thời gian có thể gây nên chứng loãng xương. Nhà nghiên cứu cũng cho biết thêm, ăn nhiều trái cây và rau củ là chìa khóa quan trọng để giảm sự loãng xương của phụ nữ trong quá trình lão hóa.
 
Việc bổ sung canxi rất quan trọng cho phụ nữ trước và sau khi mang thai, đồng thời cho phụ nữ trung niên trong thời kì lão hóa. Mong rằng các bạn sẽ lựa chọn thực phẩm thích hợp cho bản thân và gia đình của mình.
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -