Theo
thời gian, quá trình thoái hóa diễn ra ngày càng nhanh và trầm trọng.
Trong đó, nếu cột sống cổ thoái hóa ở mức độ nặng, các chồi xương và
khối lồi thoát vị đĩa đệm sẽ phát triển theo nhiều chiều hướng khác
nhau, tủy sống cổ bị chèn ép sẽ xuất hiện hội chứng cổ - tủy sống, đe
dọa sinh mệnh người bệnh. Không những thế, thoái hóa cột sống cổ còn gây
nên nhiều hội chứng phức tạp, nguy hiểm.
Hội chứng cổ - tủy sống
Nói
chung, hậu quả hội chứng tủy sống - cổ do thoái hóa cột sống cổ rất
nặng nề. Phần lớn trường hợp khối lồi hay thoát vị đĩa đệm và các chồi
xương phát triển theo hướng ra bên hoặc sau - bên. Chỉ trong các trường
hợp ngoại lệ, đĩa đệm mới lồi ra theo hướng trung tâm hoặc cạnh - trung
tâm thì mới gây chèn ép tủy. Các biểu hiện lâm sàng thường gặp là: chủ
yếu xuất hiện ở hai chi dưới, tăng phản xạ gân xương, phản xạ bệnh lý bó
tháp dương tính hoặc rối loạn cảm giác kiểu phân ly. Liệt nửa người hay
hạ liệt cứng (liệt hai chân) cũng có thể xảy ra.
Trong
giai đoạn quá độ chuyển sang mạn tính, bệnh nhân bị rối loạn dáng đi và
dẫn đến mất điều hòa vận động (thất điều). Tổn thương tủy sống do thoát
vị đĩa đệm cột sống cổ có đặc điểm là xuất hiện rất từ từ với ít hoặc
nhiều hội chứng không đặc hiệu. Bệnh thường được phát hiện muộn. Chẩn
đoán xác định bằng chụp tủy, chụp cắt lớp vi tính hay chụp cộng hưởng từ
và loại trừ u tủy cổ. Về điều trị, chỉ có phẫu thuật mới mang lại kết
quả tốt với điều kiện phải được xử trí sớm.
Hội chứng cổ - nội tạng
Hội
chứng cổ - tim: Đó là cơn đau thắt tim do thoái hóa cột sống cổ.
Gunther và Sampson là những người đầu tiên mô tả về hội chứng đau âm ỉ ở
vùng tim trong bệnh lý cột sống cổ. Tiếp sau đó, nhiều tác giả đã chứng
minh sự tồn tại của các rối loạn tim hoặc đau vùng ngực trên trong sụn
thoái hóa cột sống cổ. Những thay đổi bệnh lý của các hạch giao cảm cổ
có thể do thoái hóa cột sống có thể ảnh hưởng đến sự chi phối thần kinh ở
tim qua dây thần kinh tim.
Ngoài
ra, những nhánh của năm hạch lưng trên của dây phế vị (dây thần kinh sọ
não số X) và dây thiệt - hầu cũng đi qua đám rối thần kinh tim nông và
sâu. GS. Yumashev đã gặp 170 trường hợp hội chứng cổ tim, trong đó có 32
trường hợp được chuyển từ khoa nội sang.
Các triệu chứng thường gặp do thoái hóa cột sống cổ.
Khi
bị hội chứng cổ tim, người bệnh có cảm giác đau như đè nén, như khoan ở
toàn bộ vùng tim hoặc sau xương ức. Cơn đau kéo dài từ 60 - 90 phút. Có
bệnh nhân khởi phát đau ở vùng tim, có bệnh nhân có cơn co giật, được
báo trước bằng đau ở vùng vai, đặc biệt ở khu vực giữa hai xương bả vai
(vùng lưng). Đặc trưng là triệu chứng đau ở vùng tim tăng lên khi cử
động đầu hoặc nâng một cánh tay lên hoặc ho.
Rối
loạn cảm giác kiểu “nửa áo khoác” chỉ thấy ở ít bệnh nhân. Trong cơn
đau vùng tim, đa số bệnh nhân phàn nàn về các triệu chứng đánh trống
ngực, nhịp tim nhanh và ngoại tâm thu. Trên điện tâm đồ không có những
biến đổi đặc hiệu của thiếu máu cơ tim. Chụp Xquang cột sống cổ đều có
biểu hiện thoái hóa.
Hội chứng cổ - túi mật:
Cũng
như hội chứng tim, hội chứng túi mật trong thoái hóa cột sống cổ đã
được nhiều tác giả giải thích bằng cơ chế phản xạ và do nguồn gốc rối
loạn thần kinh thực vật ở khu vực cổ.
Hội chứng cổ sau chấn thương
Do
vị trí và đặc điểm sinh - cơ học của cột sống cổ là ở thế bất lợi của
một bộ phận tương đối lỏng lẻo giữa đầu và thân nên đặc biệt dễ bị chấn
thương. Nếu một trong hai phần cơ thể đó (đầu hoặc thân) bị tăng tốc
hoặc hãm đột ngột thì cột sống cổ phải chịu sức căng rất lớn. Chừng nào
đĩa đệm cột sống chưa bị thoái hóa, khả năng đàn hồi có thể cáng đáng
được chức năng thì cột sống cổ có thể vượt qua được những đụng độ, chấn
thương mạnh.
Nhưng
khi đã bị thoái hóa thì đĩa đệm cột sống dễ bị tổn thương hơn. Tùy theo
hướng và cường độ của lực tác động, cột sống cổ phải chịu tổn thương
theo nhiều cơ chế khác nhau. Vì cột sống có thể vận động về các phía nên
các vận động quá tầm như quá cúi, quá ưỡn hay quay cổ về bên quá mức
thường dễ xảy ra trong lao động nghề nghiệp hay trong đời sống sinh
hoạt, thể thao (phi công, nhảy cầu bổ nhào đầu xuống nước…), tai nạn
giao thông.
Nói chung, những hội chứng này thường có những dấu hiệu, biến chứng
tương tự, gần giống với những rối loạn nội tạng và tổn thương hệ thần
kinh trung ương nên dễ bị coi nhẹ, dễ nhầm trong chẩn đoán nguyên nhân,
dẫn đến hướng xử trí đơn giản, chậm, không lường được những hậu quả nặng
nề của quá trình tiến triển bệnh. Người bệnh cũng cần cảnh giác, tự
mình theo dõi trước những diễn biến bất thường từ lúc mới khởi phát bệnh
và không ngần ngại đến với thầy thuốc chuyên khoa.
10:20
Unknown

Posted in
0 nhận xét :
Đăng nhận xét