Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013


Thoái hóa khớp (THK) là bệnh mạn tính thường gặp ở người trung niên và người có tuổi, xảy ra ở mọi chủng tộc, mọi thành phần của xã hội, ở tất cả các nước và phụ nữ nhiều hơn nam giới.
Thống kê của WHO cho thấy có 0,3  0,5% dân số bị bệnh khớp lý về  khớp thì trong đó có 20% bị thoái hóa khớp. Ở Mỹ: 80% trên 55 tuổi bị thoái hóa khớp. Ở Pháp: Thoái hóa khớp chiếm 28% số bệnh về xương khớp. Ở Việt Nam: thoái hóa khớpthoái hóa khớp chiếm 10,41% các bệnh về xương khớp.

Có sự liên quan chặt chẽ giữa thoái hóa khớp và tuổi tác
- 15 – 44 tuổi: 5% người bị thoái hóa khớp
- 45 – 64 tuổi: 25 – 30% người bị thoái hóa khớp
- Trê 65 tuổi: 60 – 90% người bị thoái hóa khớp.
. Và các vị trí thường bị thoái hóa:
- Cột sống thắt lưng 31,12%
- Cột sống cổ                       13,96%
- Nhiều đoạn cột sống          07,07%
- Gối                                    12,57%
- Háng                                 08,23%
- Các ngón tay                     03,13%
- Riêng ngón tay cái  02,52%
- Các khớp khác                  01,87%
Người ta thường coi thoái hóa khớp là bệnh lý do hậu quả của quá trình tích tuổi và sự chịu lực tác động thường xuyên lên khớp. thoái hóa khớp gây đau và biến đổi cấu trúc khớp dẫn đến tàn phế làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và còn là gánh nặng cho kinh tế gia đình và toàn bộ xã hội thoái hóa khớp nếu được chẩn đoán sớm và điều trị sớm có thể làm chậm phát triển của bệnh, giảm triệu chứng đau đớn, giúp duy trì cuộc sống hoạt động.
2. Nguyên nhân
thoái hóa khớp là bệnh của toàn bộ các thành phần cấu tạo khớp như sụn khớp, xương dưới sụn, bao hoạt tích, bao khớp.. Thường xảy ra ở các khớp chịu lực nhiều như: cột sống, gối, gót. Đây là tình trạng xảy ra do sự mất quân bình giữa sự tái tạo sụn và sự thoái hóa sụn, là một bệnh lý phức tạp diễn tiến 2 quá trình song song.
. Một là sụn thoái hóa phá hủy dần sụn khớp phủ trên bề mặt xương cùng với thay đổi cấu trúc khớp.
. Và hai là hiện tượng viêm những tổ chức cận khớp. Sự thoái hóa sụn khớp gây hạn chế vận động.
Hiện tượng viêm gây triệu chứng Đau – Xung huyết và giảm hoạt động khớp. Nguyên nhân thường do:
2.1. Sự lão hóa
Theo qui luật của tự nhiên, ở người trưởng thành khả năng sinh sản và tái tạo sụn giảm dần và hết hẳn. Các tế bào sụn với thời gian tích tuổi lâu dần sẽ già, khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi collagen và mucopolysaccharide sẽ giảm sút và rối loạn, chất lượng sụn sẽ kém dần, tính chất đàn hồi và chịu lực giảm.
2.2.Yếu tố cơ giới
Là yếu tố thúc đẩy quá trình thoái hóa nhanh Yếu tố cơ giới thể hiện ở sự tăng bất thường lực nén trên một đơn vị diện tích của mặt khớp hoặc đĩa đệm là yếu tố chủ yếu trong thoái hóa khớp thứ phát, nó gồm:
. Các dị dạng bẩm sinh làm thay đổi diện tích tỳ nén bình thường của khớp và cột sống.
. Các biến dạng thứ phát sau chấn thương, viêm, u, loạn sản hay làm thay đổi hình thái, tương quan của khớp và cột sống.
. Sự tăng trọng quá tải: tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp.
2.3. Các yếu tố khác
. Di truyền: cơ địa già sớm.
. Nội tiết: mãn kinh, tiêu đường, loãng xương do nội tiết, do tuốc.
. Chuyển hóa: bệnh goutte.
Theo nguyên nhân, có thể phân biệt hai loại thoái hóa khớp.
. Nguyên phát: nguyên nhân chính là do sự lão hóa, xuất hiện muộn, thường ở người sau 60 tuổi, nhiều vị trí, tiến triển chậm, tăng dần theo tuổi, mức độ không nặng.
. Thứ phát: phần lớn là do nguyên nhân cơ giới, gặp ở mọi lứa tuổi (thường trẻ dưới 40 tuổi) khu trú một vài vị trí nặng và phát triển nhanh.
3. Các biểu hiện bệnh lý lâm sàng và cận lâm sàng
3.1. Lâm sàng:
3.1.1. Đau
Đau ở vị trí khớp bị thoái hóa, đau tại chỗ ít khi lan (ngoại trừ ở cột sống khi có chèn ép rễ và dây thần kinh.
. Đau âm ỉ, ở cột sống có thể có cơn đau cấp. Đau thường xuất hiện và tăng khi vận động hay thay đổi tư thế. Thường xuất hiện từng đợt kéo dài rồi giảm và hết, sau đó lại xuất hiện đợt khác sau khi vận động nhiều.
. Đau nhiều có co cơ phản ứng.
3.1.2. Hạn chế vận động
Các động tác của khớp bị thoái hóa có hạn chế, mức độ hạn chế không nhiều và có thể chỉ hạn chế một số động tác. Hạn chế động tácchủ động và thụ động. Do hạn chế vận động cơ vùng thương tổn có thể bị teo. Một số bệnh nhân có dấu hiệu “phá rỉ khớp” vào buổi sáng hoặc lúc mới bắt đầu hoạt động.
 3.1.3. Biến dạng
Không biến dạng nhiều như ở các khớp khác (viêm khớp, goutte). Biến dạng ở đây do các gai xương mọc thêm ở đầu xương; ở cột sống biến dạng hình thức gù, vẹo, cong, lõm
3.1.4. Các dấu hiệu khác
. Teo cơ: do ít vận động
. Tiếng lạo xạo khi vận động: ít giá trị vì có thể thấy ở người bình thường hoặc ở các bệnh khác.
. Tràn dịch khớp: đôi khi thấy ở khớp gối, do phản ứng xung huyết và tiết dịch ở màng hoạt dịch.
3.2. Cận lâm sàng:
3.2.1. X quang có ba dấu hiệu cơ bản
. Hẹp khe khớp: Hẹp không đồng đều, bờ không đều. Ở cột sống biểu hiện bằng chiều cao đĩa đệm giảm. Hẹp nhưng không dính khớp.
. Đặc xương dưới sụn: phần đầu xương, hõm khớp, mâm đốt sống có hình đậm đặc, thấy một số hốc nhỏ sáng hơn.
. Mọc gai xương: gai mọc ở phần tiếp giám giữa xương sụn và màng hoạt dịch, ở rìa ngoài của thân đốt sống. Gai xương có hình thô và đậm đặc.
3.2.2. Các xét nghiệm khác
. Các xét nghiệm toàn thân không có gì thay đổi.
. Dính khớp: biểu hiện tính chất tràn dịch cơ giới có màu vàng chanh, các thành phần cũng tương đối ở mức bình thường.
. Nội soi khớp: chỉ mới soi được ở khớp gối. Thấy những tổn thương thoái hóa của sụn khớp, phát hiện các mảnh vụn rơi trong ổ khớp.
. Sinh thiết màng hoạt dịch: thấy các hiện tượng sung huyết và xơ hóa.
4. Điều trị và phòng bệnh
4.1. Nguyên tắc:
Không có thuốc điều trị quá trình thoái hóa, chỉ có thể điều trị triệu chứng, phục hồi chức năng và phòng bệnh bằng cách ngăn ngừa, hạn chế các tác động cơ giới quá mức ở khớp và cột sống.
4.2. Các phương pháp điều trị
4.2.1. Nội khoa: Dùng các thuốc giảm đau - chống viêm
4.2.2. Các phương pháp không dùng thuốc:
. Các bài thể dục cho từng vị trí thoái hóa
. Điều trị bằng tay: xoa bóp – kéo nắn, ấn huyệt, tập vận động thụ động
. Điều trị bằng nước khoáng.
. Sử dụng các dụng cụ chỉnh hình
4.2.3. Điều trị ngoại khoa
. Chỉnh lại dị dạng các khớp bằng cách đục và khoét xương.
. Điều trị thoái vị đĩa đệm bằng cách cắt vòng cung sau hay lấy phần thoái vị.
4.3. Phòng bệnh
Trong cuộc sống hàng ngày
. Chống các tư thế xấu trong lao động và sinh hoạt.
. Tránh các động tác quá mạnh, đột ngột và sai tư thế khi mang vác, đẩy, xách, nâng...
. Kiểm tra định kỳ những người làm nghề lao động nặng dễ bị thoái hóa khớp để phát hiện và điều trị sớm.
. Chống béo phì bằng chế độ dinh dưỡng thích hợp.
Khám trẻ em, chữa sớm bệnh còi xương, các tật về khớp (vòng kiềng, chân cong). Phát hiện sớm các dị tật của xương, khớp và cột sống để có biện pháp sớm, ngăn ngừa thoái hóa khớp thứ phát.
4.4. Phác đồ điều trị thoái hóa khớp bằng YHCT
Bất cứ người bệnh được chẩn đoán thoái hóa khớp xương ở giai đoạn nào cũng nên áp dụng từng bước lần lượt từ thấp đến cao dần theo phác đồ, dù bệnh đã lâu và đã được can thiệp bằng nhiều phương pháp điều trị trước, cũng không nên áp dụng nhảy vọt vào ngay các công đoạn sau
4.1.1. Đối với thoái hóa khớp gối:
. Bắt đầu điều trị: Tạm gọi là bước 1
- Hướng dẫn người bệnh biết cách bảo vệ khớp:
Khớp gối là một trong những khớp lớn chịu lực cho hoạt động của khối nặng cơ thể, cần phải hỗ trợ và bảo vệ khi vận động đi lại hằng ngày.
@ Dùng băng thun quấn ngang diện khớp khi phải đi và đứng lâu
@ Xoa nhẹ phần đùi trên khớp và phần cẳng chân dưới khớp khi ngồi và khi nằm giúp tăng cường tuần hoàn đến khớp.
- Dùng miếng lót đệm trong giày bên khớp đau
- Đi gậy: Khuyên dùng gậy giúp lực khi đi lại trong trường hợp đau nhiều hay đã có tràn dịch khớp.
- Tập luyện:
@ Tập vận động tầm khớp gối: vận động nhẹ, chậm theo góc gập và duỗi khớp gối, cố tăng từ từ để làm giảm dần giới hạn khớp do đau.
@ Tập cho sự linh hoạt của khớp: tư thế nằm, cử động khớp theo tầm co, duỗi, và xoay, nhưng động tác nhanh hơn vận động tầm.
- Giảm cân (nếu có béo phì), theo chế độ ăn uống đúng mực.
- Châm cứu: On châm tại chỗ và vùng lân cận, châm bổ Quan nguyên, Khí hải, Tam âm giao.
- Chưa sử dụng thuốc.
 Bước 2 (sau 4 tuần điều trị của bước 1):
Nếu áp dụng theo liệu pháp 1 đạt hiệu quả tốt, người bệnh giảm đau, giảm giới hạn vận động, tiếp tục dùng thêm 4 tuần và sau đó rút dần các phương pháp tác động: như ngừng châm cứu, ngừng quấn băng, và tei61p tục các biện pháp còn lại cho tới khi ổn định hoặc mức độ chấp nhận được.
Nếu biện pháp trên không hiệu quả, vẫn đau nhiều khi vận động, tiếp tục bước 2:
- Dùng tất cả như liệu pháp 1 và thêm:
- Dùng nhiệt: Chườm ấm quanh khớp đau
- Trường hợp có tràn dịch khớp gối: Quấn băng thun khi hoạt động, sinh hoạt, chỉ tháo ra khi nghỉ, ngủ...
- Thuốc dùng ngoài: Xoa bóp khớp đau bằng rượu thuốc
- Dùng thêm thuốc YHCT
Công thức 1: Lá lốt 20g, Dây đau xương 20g, Mắc cở 20g, sắc uống mỗi ngày hoặc tự sao tẩm thành dạng trà để tiện sử dụng mỗi ngày.
Công thức 2: Lá lốt 10g, Mắc cở 12g, Quế chi 8g, Thiên niên kiện 8g, Cỏ xước 12g, Thổ phục linh 12g, Sài đất 10g, Hà thủ ô 12g, Sinh địa 18g. Dùng ở dạng thuốc sắc mỗi ngày một thang.
. Bước 3 (tức sau 8 tuần)
- Nếu hiệu quả: tiếp tục dùng thêm 4 tuần và ngưng dần các tác động điều trị.
- Nếu không hiệu quả theo chiều hướng có giảm nhưng giảm không nhiều. Áp dụng liệu pháp 1, tăng cường xoa bóp bấm huyệt bằng rượu xoa bóp (Hoặc dầu salicylate).
Bó thuốc ngoài khớp sưng: Dùng các loại như dây đau xương, lá lốt tươi, gừng, lưỡi hổ... giã nát, sao lên với dấn - rượu, bó ngoài khớp sưng khi hỗn hợp còn nóng, nguội lấy ra sao cho nóng rồi lại bó tiếp, liên tục 1 tuần đến 10 ngày cho giảm sưng và giảm đau tại chỗ.
@ Dùng các công thức thuốc sau:
Công thức 1: Xuyên khung 8, Đương quy 8, Sinh địa hoặc Thục địa 30g, Xích thược 10, Đào nhân 6g, Hồng hoa 6g, Độc hoạt 12g, Tang ký sinh 8g, Quế chi 8g, Ngưu tất 12g, Đỗ trọng 8g, Cam thảo 6g.
. Bước 4 (sau 12 tuần kể từ lúc bắt đầu)
- Nếu hiệu quả: Tiếp tục dùng thêm 4 hoặc 8 tuần và ngưng dần các liệu pháp can thiệp.
- Nếu không hiệu quả: Phối hợp các phương pháp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc như bước 3, thêm 1 đến 2 loại kháng viêm giảm đau non – steroid của Tây Y. Nếu sau 2 tuần vẫn không hiệu quả, phối hợp điều trị ngoại khoa.
4.4.2. Đối với thoái hóa khớp cột sống thắt lưng:
Bước 1:
- Tập luyện: Tập các phương pháp dưỡng sinh như: vặn cột sống ngược chiều, động tác tam giác.
- Xoa bóp vùng thắt lưng với dầu hoặc rượu xoa, bấm day ấn huyệt trên điểm đau.
- Chườm muối nóng vào thắt lưng
- Châm cứu: Hoa đà giáp tích đoạn L2 – L5 – S1 Châm a thị huyệt
Có thể thêm các huyệt như Đại trường du, Mệnh môn, Dương quan.
- Thuốc: Có thể chưa dùng đến
- Chú ý các tư thế như ngồi, đứng lâu, cúi... khi làm việc,c ần tahy đổi hình thức mỗi giờ như vận động xoay, nghiêng, ưỡn v.v... tập nhẹ nhàng, thường xuyên để tránh cứng khớp.
. Bước 2: Sau 4 tuần
Nếu diễn biến tốt, tiếp tục liệu trình trên 4 tuần nữa và ngưng dần chườm muối, châm cứu vẫn duy trì tiếp tục tập vận động nhẹ nhàng, tập dưỡng sinh và xoa bóp vùng lưng để tăng cường tuần hoàn khí huyết.
Nếu không tốt:
- Tập luyện – xoa bóp vùng lưng, chườm muối nóng và châm cứu như bước 1.
- Dùng thuốc:
Công thức: Độc hoạt 12g, Ngưu tất 12g, Phòng phong 12g, Đỗ trọng 12g, Quế chi 8g, Tang ký sinh 12g, Tế tân 8g, Sinh địa 12g, Tần giao 8g, Bạch thược 12g, Đương quy 8g, Cam thảo 6g, Đảng sâm 12g, Phục linh 12g.
. Bước 3. Sau 8 tuần
Nếu diễn tiến tốt có thể tiếp tục điều trị 4 tuần nữa rồi ngưng dần thuốc, châm cứu... Nếu diễn tiến chưa tốt
- Tập luyện – xoa bóp như bước 2
- Châm cứu như bước 1 và 2, và có thể gia thêm
Châm bổ các huyệt dùng thắt lưng như Thận du, Đại trường du, mệnh môn, Chi thất, Bát liêu...
- Dùng thuốc:
@ Kháng viêm - giảm đau Non – Steroid
@ Thuốc YHCT: Thục địa, Hoài sơn, Đơn bì, Phục linh, Trạch tả, Sơn thù, Đỗ trọng, Quế chi, Đương quy, Xích thược.
4.4.3. Đối với thoái hóa cột sống cổ - lưng:
@ Châm cứu: A thị huyệt
@ Xoa bóp dùng các thủ thuật: day, ấn, lăn trên vùng cổ - lưng bị co cứng. Sau khi xoa bóp nên vận động ngay.
@ Tập dưỡng sinh: Ưỡn cổ, Xem xa – xem gần, Xoay cổ
@ Chườm ngoài: Dùng muối rang nóng chườm lên vùng đau.
Dùng cồn xoa bóp (Ô đầu sống, Quế, Đại hồi) chỉ xoa lên vùng đau, không được uống. Hoặc lá ngải cứu sao rượu đắp nóng tại chỗ; hoặc rang chườm nóng tại chỗ.
@ Dùng thuốc: Thiên ma, Khương hoạt, Độc hoạt, Xuyên khung, Đương quy, Sinh địa, Bạch thược, Quế chi, Cam thảo.
4.4.4. Đối với thoái hóa các khớp chi trên (khuỷu - cổ tay – bàn ngón tay, đốt tay...)
4.4.5. Đối với các khớp chi dưới (cổ chân, gót, ngón tay...)
@ Châm cứu: Châm bổ các huyệt Quan nguyên, khí hải, Thận du, Tam âm giao, Ôn châm các huyệt tại các khớp đau và vùng lân cận khớp.
@ Xoa bóp: Tập luyện thường xuyên các khớp, chống cứng khớp. Xoa bóp ác chi đau, giúp tăng tuần hoàn và dinh dưỡng như ác ngón tay bị cứng, hoặc tê đau tập vận động bóp trái banh, khớp cổ chân, bàn ngón chân đau ngâm chân trong nước muốinóng v.v...
@ Dùng thuốc:
Công thức 1: Lá Iốt, Mắc cở, Dây đau xương, Hy thêm thảo, Quế chi, Thiên miên kiện, Cỏ xước, Hà thủ ô.
Công thức 2: Xuyên khung, Đương quy, Sinh địa, Bạch thược, Đào nhân, Hồng hoa, Phòng phong, Ý dĩ, Trương truật, Cam thảo.
Công thức 3: Độc hoạt 12g, Ngưu tất 12g, Phòng phong 12g, Đỗ trọng 12g, Quế chi 8g, Tang ký sinh 12g, Tế tân 8g, Sinh địa 12g, Tần giao 8g, Bạch thược 12g, Đương quy 8g, Cam thảo 6g, Đảng sâm 12g, Phục linh 12g (cho vùng chi dưới)
Công thức 4: Khương hoạt 8g, Phòng phong 8g, Khương hoàng 12g, Chích thảo 6g, Đương quy 8g, Xích thược 12g, Gừng 4g, Đại táo 12g, Hoàng kỳ 12g (cho vùng chi trên)

Gai cột sống là sự phát triển thêm ra của xương trên thân đốt sống, đĩa sụn hay dây chằng quanh khớp. Nguy cơ mắc bệnh này tăng theo độ tuổi và nam bị nhiều hơn nữ.

1. Nguyên nhân chính dẫn đến gai cột sống

1.1. Viêm khớp cột sống mãn tính
Quá trình viêm ảnh hưởng đến phần sụn đốt sống, lâu ngày phần sụn này bị hao mòn dần, khiến bề mặt trơn láng của nó trở nên thô ráp, xù xì và cuối cùng hai bề mặt xương tiếp xúc, cọ sát lên nhau. Đến lúc này, cơ thể sẽ có một quá trình tự điều chỉnh để khắc phục hiện tượng trên, nhưng kết quả của quá trình chỉnh sửa lại là sự hình thành gai xương. Do đó, có thể nói gai xương là một đáp ứng tự nhiên của cơ thể đối với phản ứng viêm.
1.2. Sự lắng đọng canxi ở các dây chằng, gân tiếp xúc với đốt sống
Trường hợp này thường gặp trong thoái hóa cột sống ở người lớn tuổi; đó là sự lắng đọng canxi dưới dạng calcipyrophosphat. Thoái hóa cột sống là một rối loạn có thể dẫn đến mất cấu trúc và chức năng bình thường của cột sống. Sự thoái hóa có thể xảy ra ở một trong các thành phần cấu tạo của cột sống: xương đốt sống, đĩa sụn, các dây chằng bám quanh khớp. Quá trình thoái hóa làm mất nước (chiếm 80% trong sụn) và biến đổi một số chất, làm sụn khớp dễ bị canxi hóa.
1.3. Chấn thương
Chấn thương làm hư hại xương hoặc khớp ở cột sống, và phản ứng của cơ thể để sửa chữa nơi bị tổn thương sẽ dẫn đến sự hình thành gai cột sống. Trong trường hợp này, gai cũng có thể hình thành từ sự lắng đọng canxi ở dây chằng đã dày lên do phản ứng viêm.

2. Dấu hiệu

Đa số bệnh gai cột sống không gây ra dấu hiệu triệu chứng gì.
Tuy nhiên khi gai cọ xát với xương khác hoặc các phần mềm ở xung quanh như dây chằng, rễ dây thần kinh thì bệnh nhân mới thấy đau.
Đau thường xuất hiện ở cổ, thắt lưng, đặc biệt là khi bệnh nhân đứng hoặc đi.
Đau lan xuống vai với nhức đầu khi gai ở cột sống cổ, lan xuống lưng, chân khi gai ở cột sống lưng.
Cơn đau tăng khi cử động, giảm khi nghỉ do đó sẽ đưa tới giới hạn cử động ở các phần này.
Khi dây thần kinh bị chèn ép, bệnh nhân cảm thấy đau ở tay và chân, cơ bắp yếu. Nếu ống tủy bị quá thu hẹp, bệnh nhân sẽ có rối loạn đại tiểu tiện, mất cảm giác.
Ngoài gai cột sống, các dấu hiệu vừa kể cũng thấy trong bệnh tiểu đường, rối loạn tuần hoàn ở tứ chi, u, viêm hoặc nhiễm trùng cột sống. Một số dấu hiệu của gai cột sống cũng tương tự như ở các bệnh viêm thấp khớp, chấn thương lưng, đứt đĩa liên sống.
Cần phân biệt Gai cột sống với Thoái hóa cột sống, đau thần kinh tọa, thoát vị đĩa đệm. Sự phân biệt căn cứ vào dấu hiệu và y sử của mỗi trường hợp.

3. Biến chứng

Bình thường gai cột sống xuất hiện nhiều hơn ở cạnh hoặc phía trước cột sống cho nên gai không cọ sát với rễ dây thần kinh hoặc với tủy sống ở phía sau, do đó gai ít gây ra các biến chứng nguy hiểm.
Tuy nhiên, một số trường hợp hiếm có thể xảy ra là gai gẫy, mảnh gẫy chạy vào giữa khớp xương, gây khó khăn cho sự co ruỗi khớp hoặc khi gai đè vào rễ dây thân kinh và gây ra mất cảm giác ở tay chân.

4. Điều trị

Nếu gai không gây đau, không cần điều trị.
Bệnh nhân tìm tới bác sĩ khi các cơn đau và các khó khăn khi cử động khiến cho họ phải giới hạn các hoạt động bình thường và ảnh hưởng tới nếp sống.
Khi gai gây đau thì sự điều trị tập trung ở nguyên nhân gây ra gai, dấu hiệu bệnh hoặc sự hiện diện của gai.
- Với nguyên nhân, việc giảm cân để giảm sức nặng lên xương khớp là điều cần làm.
- Điều trị dấu hiệu đau gồm có nghỉ ngơi khi sưng viêm, chườm nước đá, uống thuốc chống viêm không có steroid như paracetamol, ibuprofen.
Trong trường hợp đau nhiều, bác sĩ có thể chích thuốc steroid tại chỗ để giảm viêm và đau của cơ bắp.
Thuốc viên steroid là thuốc chống viêm rất mạnh và rất công hiệu để trị viêm. Tuy nhiên, thuốc có nhiều tác dụng không muốn nếu dùng không đúng cách và không có chỉ định của bác sĩ. Dùng lâu, steroid có thể đưa tới mục xương, cao huyết áp, giữ nước trong cơ thể.
Xin lưu ý là, hiện nay tại Việt Nam, có nhiều thuốc chống đau nhập cảng hoặc sản xuất tại chỗ gọi là đông dược mà lại có pha thêm steroid. Tác dụng chống viêm sẽ mau hơn nhưng tác dụng phụ có hại cũng rất nhiều. Bộ y tế Việt Nam đã nhiều lần báo động dân chúng về vấn đề này.
- Gai cột sống có thể được cắt bỏ với vi phẫu thuật rất chính xác. Nhưng sau khi cắt, gai có thể mọc trở lại.
Cắt bỏ chỉ được chỉ định khi gai chèn ép vào hệ thần kinh, gây ra các dấu hiệu như tê chân tay, rối loạn đại tiểu tiện, đau lan tới tứ chi và ảnh hưởng xấu tới sinh hoạt thường nhật
Châm cứu có thể làm giảm đau một phần nào ở phần mềm nhưng không có tác dụng vào tình trạng viêm sưng cũng như khi gai tác động lên rễ dây thần kinh não tủy.
 Vật lý trị liệu, thoa bóp, luyện tập xương khớp, thực hành yoga cũng giúp giảm ảnh hưởng của gai.

5. Kết luận

Một trong nhiều nguyên nhân chính gây ra gai cột sống là thoái hóa viêm xương khớp.
Để có thể tránh viêm xương khớp bằng cách thường xuyên vận động cơ thể để xương khớp, cơ bắp bền mạnh hơn; giảm cân nếu mập phì; tránh các chấn thương lên xương khớp và ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng mà cơ thể cần.

Thoái hóa đốt sống cổ là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ. Bệnh thường xuất hiện ở người 40-50 tuổi, sử dụng nhiều động tác ở vùng đầu cổ, có cường độ lao động cao (làm suốt ngày không nghỉ),… gây ra nhiều khó khăn trong sinh hoạt và lao động ảnh hưởng đến chất lượng sống cho người bệnh.
Những ai có nguy cơ mắc?
Thoái hóa đốt sống cổ thường gặp ở những người có tư thế lao động cúi và sử dụng nhiều động tác ở vùng đầu cổ, có cường độ lao động cao (làm suốt ngày không nghỉ) và thâm niên lao động (tuổi nghề): có thể gặp ở người đi cấy (thoái hóa đốt sống cổ và đốt sống lưng), thợ cắt tóc, thợ sơn trần, diễn viên xiếc, bác sĩ chuyên khoa răng,...
Những người có người thân từng mắc căn bệnh này cũng có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn những người trong gia đình không có người bị bệnh. Những người cao tuổi (do quá trình lão hóa  của xương khớp), những người hút thuốc lá,  phụ nữ sau mãn kinh, người dùng thuốc kháng viêm thuộc nhóm corticoid kéo dài có tỉ lệ bị thoái hóa cột sống cổ nhiều hơn người bình thường…

Cách phát hiện?
Giai đoạn đầu của quá trình lão hóa người bệnh không thấy có cảm giác khác thường. Khi bệnh tiến triển một thời gian sẽ xuất hiện các triệu chứng sau: bệnh nhân có cảm giác mỏi vùng cổ-vai, đau vùng cổ-gáy (đôi khi làm nhức đầu), làm hạn chế cử động xoay đầu và cổ, đau có thể lan sang 1 hoặc 2 vai và lan đến 1 hoặc 2 tay, làm tê và giảm cảm giác các ngón tay.  Nếu không điều trị, tùy theo rễ thần kinh chi phối bị chèn ép, đôi khi có cảm giác “kiến bò”, hoặc đau như “điện giật” lan từ vai xuống đến ngón tay, giảm và mất cảm giác, teo cơ hoặc yếu liệt, tay chân. Ở giai đoạn nặng hơn, cảm giác đau xuất hiện thường xuyên hơn và ngày càng tăng, làm hạn chế các hoạt động sinh hoạt của người bệnh, những tổn thương này sẽ khó phục hồi. Khi tổn thương ở đoạn đốt sống C1-C2, C4 này người bệnh còn có biểu hiện nấc, ngáp, chóng mặt...

Các biến chứng có thể gặp
Nếu bệnh nặng có thể gặp các biến chứng  như: các triệu chứng chèn ép thần kinh gây đau dọc từ cổ xuống vai và cánh tay một hoặc cả hai bên; chèn ép các động mạch đốt sống gây đau đầu, chóng mặt; hãn hữu có chèn ép tủy, biểu hiện bằng yếu, đau tứ chi, đi lại khó khăn hoặc liệt không vận động được. Bên cạnh đó, thoái hóa đốt sống cổ gây nên hội chứng tủy với biểu hiện: đi không vững, cảm giác tê ở thân, bàn tay và các ngón tay cử động vụng về, liệt và teo cơ; liệt chân hoặc tay; teo cơ ngọn chi; đi bộ khó khăn; rối loạn cảm giác tê bì ngọn chi trên, mất vận động chi trên; mất vận động chi dưới; rối loạn cơ thắt, đái khó, đái són, đái ngắt quãng...

26000

Tại cơ sở y tế
Để chẩn đoán cũng như đánh giá các loại tổn thương, ngoài việc khám bệnh, bác sĩ phải thực hiện một số các khảo sát hình ảnh: như chụp Xquang cột sống cổ nhiều tư thế, chụp cắt lớp đa lát cắt (MS CTScan), chụp cộng hưởng từ cột sống cổ (MRI), đo mật độ xương (độ loãng xương),…
Tùy theo tình trạng cụ thể ở từng người bệnh mà bác sĩ sẽ quyết định điều trị nội khoa (dùng thuốc) phối hợp với các phương pháp vật lý trị liệu.Thời gian điều trị có thể kéo dài. Nếu việc điều trị nội khoa đúng mức mà bệnh không giảm thì bác sĩ sẽ xem xét khả năng can thiệp thủ thuật hay phải phẫu thuật nhằm lấy đi các thương tổn gây chèn ép thần kinh và làm cho cột sống phần nào được vững chắc trở lại.

Phòng ngừa thoái hóa đốt sống cổ
Để tránh bị thoái hóa cột sống cổ hoặc làm chậm sự tiến triển tiếp tục của thoái hóa cột sống cổ cần thay đổi tư thế làm việc sai lệch, lâu dài. Giữ tư thế đầu-cổ luôn thẳng khi làm việc, tránh những chấn thương cho cột sống cổ như đội vật nặng trên đầu, cúi-ngửa đầu quá mức. Không nên có động tác vặn bẻ cổ đột ngột khi thấy mỏi, bởi tất cả những động tác xoay đầu này sẽ làm tăng thoái hóa đốt sống cổ. Không hút thuốc lá, các chất kích thích có hại cho sức khỏe như rượu, bia,… Cần luyện tập thể dục thể thao nhẹ nhàng, phù hợp với sức khỏe, nên tham khảo ý kiến bác sĩ về phương pháp luyện tập.



Theo thời gian, quá trình thoái hóa diễn ra ngày càng nhanh và trầm trọng. Trong đó, nếu cột sống cổ thoái hóa ở mức độ nặng, các chồi xương và khối lồi thoát vị đĩa đệm sẽ phát triển theo nhiều chiều hướng khác nhau, tủy sống cổ bị chèn ép sẽ xuất hiện hội chứng cổ - tủy sống, đe dọa sinh mệnh người bệnh. Không những thế, thoái hóa cột sống cổ còn gây nên nhiều hội chứng phức tạp, nguy hiểm.
Hội chứng cổ - tủy sống


 Nói chung, hậu quả hội chứng tủy sống - cổ do thoái hóa cột sống cổ rất nặng nề. Phần lớn trường hợp khối lồi hay thoát vị đĩa đệm và các chồi xương phát triển theo hướng ra bên hoặc sau - bên. Chỉ trong các trường hợp ngoại lệ, đĩa đệm mới lồi ra theo hướng trung tâm hoặc cạnh - trung tâm thì mới gây chèn ép tủy. Các biểu hiện lâm sàng thường gặp là: chủ yếu xuất hiện ở hai chi dưới, tăng phản xạ gân xương, phản xạ bệnh lý bó tháp dương tính hoặc rối loạn cảm giác kiểu phân ly. Liệt nửa người hay hạ liệt cứng (liệt hai chân) cũng có thể xảy ra.


 Trong giai đoạn quá độ chuyển sang mạn tính, bệnh nhân bị rối loạn dáng đi và dẫn đến mất điều hòa vận động (thất điều). Tổn thương tủy sống do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ có đặc điểm là xuất hiện rất từ từ với ít hoặc nhiều hội chứng không đặc hiệu. Bệnh thường được phát hiện muộn. Chẩn đoán xác định bằng chụp tủy, chụp cắt lớp vi tính hay chụp cộng hưởng từ và loại trừ u tủy cổ. Về điều trị, chỉ có phẫu thuật mới mang lại kết quả tốt với điều kiện phải được xử trí sớm.



Hội chứng cổ - nội tạng


Hội chứng cổ - tim: Đó là cơn đau thắt tim do thoái hóa cột sống cổ. Gunther và Sampson là những người đầu tiên mô tả về hội chứng đau âm ỉ ở vùng tim trong bệnh lý cột sống cổ. Tiếp sau đó, nhiều tác giả đã chứng minh sự tồn tại của các rối loạn tim hoặc đau vùng ngực trên trong sụn thoái hóa cột sống cổ. Những thay đổi bệnh lý của các hạch giao cảm cổ có thể do thoái hóa cột sống có thể ảnh hưởng đến sự chi phối thần kinh ở tim qua dây thần kinh tim.


 Ngoài ra, những nhánh của năm hạch lưng trên của dây phế vị (dây thần kinh sọ não số X) và dây thiệt - hầu cũng đi qua đám rối thần kinh tim nông và sâu. GS. Yumashev đã gặp 170 trường hợp hội chứng cổ tim, trong đó có 32 trường hợp được chuyển từ khoa nội sang.




hinh-anh-thoai-hoa-cot-song-co


Các triệu chứng thường gặp do thoái hóa cột sống cổ.


Khi bị hội chứng cổ tim, người bệnh có cảm giác đau như đè nén, như khoan ở toàn bộ vùng tim hoặc sau xương ức. Cơn đau kéo dài từ 60 - 90 phút. Có bệnh nhân khởi phát đau ở vùng tim, có bệnh nhân có cơn co giật, được báo trước bằng đau ở vùng vai, đặc biệt ở khu vực giữa hai xương bả vai (vùng lưng). Đặc trưng là triệu chứng đau ở vùng tim tăng lên khi cử động đầu hoặc nâng một cánh tay lên hoặc ho.


Rối loạn cảm giác kiểu “nửa áo khoác” chỉ thấy ở ít bệnh nhân. Trong cơn đau vùng tim, đa số bệnh nhân phàn nàn về các triệu chứng đánh trống ngực, nhịp tim nhanh và ngoại tâm thu. Trên điện tâm đồ không có những biến đổi đặc hiệu của thiếu máu cơ tim. Chụp Xquang cột sống cổ đều có biểu hiện thoái hóa.



Hội chứng cổ - túi mật:
Cũng như hội chứng tim, hội chứng túi mật trong thoái hóa cột sống cổ đã được nhiều tác giả giải thích bằng cơ chế phản xạ và do nguồn gốc rối loạn thần kinh thực vật ở khu vực cổ.



Hội chứng cổ sau chấn thương


 Do vị trí và đặc điểm sinh - cơ học của cột sống cổ là ở thế bất lợi của một bộ phận tương đối lỏng lẻo giữa đầu và thân nên đặc biệt dễ bị chấn thương. Nếu một trong hai phần cơ thể đó (đầu hoặc thân) bị tăng tốc hoặc hãm đột ngột thì cột sống cổ phải chịu sức căng rất lớn. Chừng nào đĩa đệm cột sống chưa bị thoái hóa, khả năng đàn hồi có thể cáng đáng được chức năng thì cột sống cổ có thể vượt qua được những đụng độ, chấn thương mạnh.




Nhưng khi đã bị thoái hóa thì đĩa đệm cột sống dễ bị tổn thương hơn. Tùy theo hướng và cường độ của lực tác động, cột sống cổ phải chịu tổn thương theo nhiều cơ chế khác nhau. Vì cột sống có thể vận động về các phía nên các vận động quá tầm như quá cúi, quá ưỡn hay quay cổ về bên quá mức thường dễ xảy ra trong lao động nghề nghiệp hay trong đời sống sinh hoạt, thể thao (phi công, nhảy cầu bổ nhào đầu xuống nước…), tai nạn giao thông.
Nói chung, những hội chứng này thường có những dấu hiệu, biến chứng tương tự, gần giống với những rối loạn nội tạng và tổn thương hệ thần kinh trung ương nên dễ bị coi nhẹ, dễ nhầm trong chẩn đoán nguyên nhân, dẫn đến hướng xử trí đơn giản, chậm, không lường được những hậu quả nặng nề của quá trình tiến triển bệnh. Người bệnh cũng cần cảnh giác, tự mình theo dõi trước những diễn biến bất thường từ lúc mới khởi phát bệnh và không ngần ngại đến với thầy thuốc chuyên khoa.       

Càng cao tuổi bệnh thoái hoá khớp (THK) bàn tay, ngón tay, cổ tay càng dễ phát triển. Đây là một bệnh khớp gặp ở cả nam và nữ nhưng nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn. Mặc dù bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và cuộc sống hằng ngày.
Nhiều nguyên nhân dẫn đến THK bàn tay, cổ tay


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến THK bàn tay, ngón tay, trong đó tuổi tác và giới tính cần quan tâm nhất. Bệnh thường xảy ra ở người trưởng thành, đặc biệt là người cao tuổi, trong đó nữ giới chiếm tỷ lệ 2/3 các trường hợp THK bàn tay, cổ tay. Nguyên nhân dẫn đến THK này đa số là do:



Tuổi tác: Tuổi đời càng cao thì bệnh THK nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng càng gia tăng do hiện tượng lão hoá các chức năng của cơ thể đặc biệt đối với nữ giới do suy giảm lượng hormon sinh dục. Sự THK là do lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng giảm sút một cách đáng kể và từ từ làm cho tổ chức sụn khớp thiếu chất dinh dưỡng. Trong khi sự thiếu hụt càng ngày càng gia tăng thì sức chịu đựng của sụn khớp càng ngày càng giảm bởi các tác động hằng ngày, liên tục lên khớp.


Làm việc nhiều với bàn tay:



Những người phải làm việc nhiều với bàn tay của mình như phụ nữ làm công việc nội trợ (giặt giũ, lao động tay chân…), béo phì,… càng dễ mắc bệnh THK nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng. Ngay cả sự THK cũng hay gặp ở bàn tay, ngón tay nào vận động nhiều hơn, người thuận tay phải thì khớp bàn tay phải và khớp các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa cũng sẽ dễ bị thoái hoá hơn các khớp bàn tay trái không thuận và khi bị thoái hoá thì các khớp bàn tay phải cũng có biểu hiện nặng hơn, thoái hoá, biến dạng khớp nhiều hơn. Trong các trường hợp viêm đa khớp dạng thấp thì hiện tượng THK cổ tay, bàn tay, ngón tay cũng chiếm tỷ lệ cao hơn các khớp khác.

Thiếu hụt canxi: Tỷ lệ người thiếu hụt canxi chiếm đa số là người lớn, trong đó đáng chú ý nhất là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh. Sự thiếu hụt canxi này cũng là một trong các nguyên nhân gây THK bàn tay, ngón tay.


Sau chấn thương: THK bàn tay, ngón tay cũng có thể gặp sau chấn thương, gãy xương, viêm khớp dạng thấp, bệnh gút hoặc một số bệnh rối loạn chuyển hoá như bệnh đái tháo đường. Đối với người cao tuổi còn có một nguyên nhân nữa là ít vận động cơ thể hoặc lười vận động.

cau-truc-canxi
Cấu trúc của canxi - nếu thiếu thành phần này trong cơ thể dễ dẫn đến thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay.


Những dấu hiệu điển hình của bệnh


Có một số triệu chứng cần quan tâm là đau, cứng khớp. Đau xảy ra khi vận động, gọi là đau kiểu cơ học và giảm đau khi các khớp được nghỉ ngơi (không cử động, không vận động). Tính chất đau không dữ dội mà thông thường chỉ biểu hiện ở mức nhẹ hoặc trung bình, thời gian đau kéo dài khoảng 15 - 30 phút, có khi lâu hơn. Thời gian đau khớp còn tùy thuộc vào mức độ nặng, nhẹ của sự tổn thương khớp. Ngoài các khớp bị đau thì đôi khi còn bị sưng nhẹ. Biểu hiện của triệu chứng cứng khớp thường rõ ràng hơn nhiều.


Cứng khớp xuất hiện lúc mới ngủ dậy buổi sáng sớm hoặc sau giấc ngủ buổi trưa. Cứng khớp biểu hiện như khó cử động hoặc cử động không mềm mại, uyển chuyển và dần dần bàn tay sẽ xuất hiện hiện tượng khó thực hiện các thao tác trong sinh hoạt hằng ngày như cầm nắm đồ vật không chắc (có khi cầm không chắc bị rơi đồ vật) hoặc thực hiện không chuẩn các thao tác khi tắm, rửa, giặt giũ quần áo. Song song với rối loạn các động tác cầm nắm thì các cơ ở bàn tay, ngón tay cũng sẽ bị teo nhỏ dần và các khớp bàn tay, ngón tay bị biến dạng.


Làm sao để không bị thoái hóa khớp bàn tay, cổ tay?


Muốn phòng bệnh có hiệu quả thì những đối tượng có nguy cơ cao bị THK bàn tay, cổ tay (phụ nữ làm việc chân tay nhiều, những người nội trợ…) tránh lao động nặng. Khi làm việc với đôi tay nên có thời gian nhất định để bàn tay được nghỉ ngơi, không làm việc liên tục nhiều giờ liền.


Trong cuộc sống hằng ngày hoặc trong lao động, nếu có máy móc thay thế cho bàn tay thì nên tận dụng (ví dụ máy rửa bát đĩa, cối xay thịt thay cho bàn tay…). Sau mỗi buổi sáng ngủ dậy nên tập nhẹ nhàng các khớp cổ tay, bàn tay và ngón tay.


Nếu có điều kiện nên ngâm bàn tay vào nước muối sinh lý ấm, mỗi ngày khoảng 2 lần (sáng và tối trước khi đi ngủ), mỗi lần khoảng 10 phút. Tránh hiện tượng tăng cân, ăn uống hợp lý, năng vận động cơ thể. Nếu mắc một số bệnh về chuyển hoá hoặc chấn thương bàn tay, ngón tay nên điều trị dứt điểm và theo chỉ định của bác sĩ.


Để chẩn đoán bệnh THK bàn tay, ngón tay  thì ngoài các triệu chứng lâm sàng còn có thể chụp Xquang khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay; nếu có điều kiện nên tiến hành một số xét nghiệm như máu lắng xác định yếu tố dạng thấp RF (Rheumatoid Factor)… Những trường hợp nghi ngờ bị THK nên được khám bệnh sớm để xác định và điều trị kịp thời, tránh để xảy ra các biến chứng về xương khớp.

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

(ĐTĐ) – Những ngày cuối năm công việc bộn bề mà anh Vĩnh Hùng lại bị đau cổ không quay đầu được. Than thở thì bị vợ trách là… nhậu quá hóa bệnh. Còn bạn bè lại tặc lưỡi: Chắc tối ngủ sai tư thế nên bị đau đâu đó.

Cạo gió, giác hơi, đắp salonpas cũng chẳng thấy bớt. Đến bệnh viện khám mới hay mình bị thoái hóa đốt sống cổ, nhìn quanh thấy người cùng bệnh đến khám không ít. Lạ là số phụ nữ mắc bệnh này có vẻ nhiều hơn hay sao mà anh Hùng thấy cùng ngồi chờ quanh mình toàn phụ nữ…


Bác sĩ Phạm Thị Thúy Nga, Khoa điều trị đau Bệnh viện FV cho biết: Bước vào tuổi trung niên, nhiều người rất dễ mắc bệnh thoái hóa đốt sống cổ do công việc phải cử động vùng cổ nhiều, cường độ lao động cao. Những người dễ bị thoái hóa đốt sống cổ như thợ may, thợ cắt tóc, thợ sơn trần nhà, nha sĩ, diễn viên xiếc,… Khi mới mắc bệnh có thể cả thời gian dài người bệnh không có cảm giác đau đớn gì. Tùy lúc phát bệnh, có thể do thời tiết, có khi do làm việc quá sức…, bệnh mới biểu hiện các triệu chứng như: Vướng và đau khi quay động tác cổ, thỉnh thoảng thấy vẹo cổ, cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, cổ, ảnh hưởng tới tư thế đầu cổ, đau lan lên đầu, có thể nhức đầu ở vùng chẩm, vùng trán, đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay ở một bên hay ở cả hai bên. Nặng hơn thì có cảm giác cứng gáy, có điểm đau khi ấn vào các gai xương và các mỏm ngang của cột sống cổ, chụp X-quang cột sống cổ thấy mất đường cong sinh lý, hẹp đĩa liên đốt, biến dạng ở thân đốt, có các gai xương.
Thoái hóa đốt sống cổ gây tổn thương vào lỗ tiếp hợp, có thể gây rối loạn tuần hoàn não. Người bệnh cần được thăm khám lâm sàng thần kinh kết hợp với thăm dò siêu âm để xử trí kịp thời.
Về điều trị, trước tiên, cần loại trừ chứng đau gáy chẩm, đau gáy bả vai, cánh tay do u hố sau, u tủy cổ. Khi đã xác định bệnh, cần điều trị thoái hóa, chủ yếu là dùng thuốc giảm đau thông thường và xoa – gõ vùng gáy, mặt, bụng. Nên dùng thêm vitamin E (400 UI/ngày). Kết hợp điều trị phục hồi chức năng chung của toàn cơ thể (nhất là đối với người cao tuổi) với các hình thức thư giãn, sinh hoạt câu lạc bộ. Đối với người có nghề nghiệp dễ dẫn đến thoái hóa đốt sống cổ, cần phân phối đều giữa lao động và nghỉ ngơi, thư giãn, các xoa bóp phục hồi chức năng (nhất là các diễn viên xiếc).
Nhiều người do đau quá và nghĩ nguyên nhân nằm ngủ lệch thế nên hay tìm đến dịch vụ massage để đấm bóp, điểm huyệt. Tuy nhiên lời khuyên cho người bệnh để đề phòng hiện tượng “gãy”, trật khớp mỏm nha gây liệt tứ chi hoặc tử vong… tuyệt đối không được “vặn”, “ấn cổ”, khi ngủ không nên nằm gối đầu quá cao.
Giới áo đầm, cổ cồn cũng có nguy cơ bị thoát vị đĩa đệm, cứ tưởng bệnh chỉ “kết” người mang vác nặng, làm việc chân tay nhiều..

Ngồi lâu một tư thế, đổi tư thế đột ngột là lỗi phổ biến, gây thoát vị đĩa đệm



Dấu hiệu nhận biết

Dấu hiệu nhận biết đầu tiên thường là đau lưng, đau cổ lan xuống vai, tê mỏi chân tay, háng, rồi theo thời gian sẽ diễn tiến xuống chân hay rối loạn vận động cảm giác phần thân dưới… Có thể nói, thoát vị đĩa đệm chẳng kiêng dè độ tuổi nào.

Trong khi những người thuộc nhóm ngành nghề khác thường bị thoát vị đĩa đệm do tai nạn lao động, phải mang vác nặng, té ngã, chấn thương hay do tuổi tác thì nhân viên văn phòng lại chủ yếu do ngồi một chỗ trong nhiều tiếng đồng hồ liên tục, không vận động.

Họ cũng thường hay dư cân, bụng to. Những điều này làm đĩa đệm giữa hai đốt sống bị tăng áp lực, dễ thoát vị ra phía ngoài, chèn vào các rễ thần kinh tủy sống và gây đau đớn.

Điều trị

Hầu hết bệnh nhân thoát vị đĩa đệm bắt đầu điều trị bằng phương pháp vật lý trị liệu và dùng thuốc, trừ khi có tổn thương quá nặng, có liệt chân, tay – phải can thiệp ngoại khoa ngay. Việc điều trị bảo tồn này có thể kéo dài từ 3 đến 6 tháng.

Nếu may mắn kết quả tốt, tình trạng bệnh sẽ được cải thiện thấy rõ, hết viêm, sưng đau. Ngược lại, bệnh nhân cần chuẩn bị tâm lý cho các phương pháp điều trị có xâm lấn.

Đến nay, nhiều người vẫn nghĩ điều trị bằng vật lý trị liệu chỉ là tập theo một số động tác nào đó. Thật ra, điều trị vật lý trị liệu còn bao gồm việc sử dụng máy móc với các tia chiếu phù hợp, có tác dụng giảm đau, chống co cứng cơ, giãn mạch, tăng cường chuyển hóa dinh dưỡng như kéo giãn cột sống bằng hệ thống kéo giãn kỹ thuật số…

Rất nhiều nhân viên văn phòng thấy vật lý trị liệu hiệu quả, giúp họ bớt hẳn tê đau cứng vùng cổ, lưng, tay, vai khi điều trị khoảng một tiếng đồng hồ mỗi ngày với các phương pháp thích hợp.

Phòng tránh

Nhân viên văn phòng nên có một số bài thể dục cho vùng cổ, lưng ngay tại ghế làm việc. Sau mỗi tiếng, nên đứng dậy đi lại, vận động nhẹ nhàng.

Những người dư cân, đặc biệt là béo phì, bụng bự sẽ tăng nguy cơ võng cột sống, từ đó gián tiếp tăng nguy cơ bị thoát vị đĩa đệm. Thay vì đến các quán nhậu sau giờ làm, nhân viên văn phòng nên chọn đăng ký một môn thể dục vừa sức mà mình yêu thích.

Tránh việc thay đổi tư thế đột ngột. Chẳng hạn, bạn quay ngoắt đầu khi nghe có tiếng gọi, bất ngờ quay vẹo cột sống để lấy đồ mà không xoay cả người cũng có thể gây thoát vị đĩa đệm rồi.

Đa số các chấn thương khi tập thể dục thể thao cũng do không khởi động, dẫn đến co cơ đột ngột.
ANTĐ – Nghiên cứu mới cho thấy một loại siêu âm đặc biệt có thể phát hiện sớm bệnh tim ở những người bị viêm khớp dạng thấp.
Trẻ mắc bệnh viêm khớp dễ bị nhiễm trùng bệnh viện
Viêm khớp dạng thấp làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim
Bệnh lupus, viêm khớp dạng thấp liên quan với hiếm muộn, xảy thai
Các tác giả thuộc Bệnh viện Mayo tại Rochester, Minn, Mỹ giải thích rằng bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có nguy cơ cao bị bệnh tim, điều quan trọng là có thể phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm và bắt đầu điều trị trước khi bệnh tiến triển tới thời điểm khiến người bệnh có nguy cơ bị cơn đau tim hoặc suy tim.


Trong nghiên cứu này, các tác giả đã dùng siêu âm tim tìm vết để đánh giá chức năng tim ở 100 người bị viêm khớp dạng thấp và 50 người không bị viêm khớp dạng thấp hoặc bệnh tim.


Bệnh nhân viêm khớp bị kiểu suy tim không gặp ở người khỏe mạnh, và sự suy giảm này có mô hình khác nên có thể được dùng để phát hiện bệnh tim trước khi người bệnh có dấu hiệu lâm sàng.

Hai phương pháp đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim được dùng rộng rãi – bảng điểm Framingham và Reynolds – thường đánh giá thấp nguy cơ tim ở nhiều bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. Loại siêu âm này có thể cải thiện việc phát hiện sớm rối loạn tim ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

Nghiên cứu này được trình bày tại hội nghị thường niên của Liên hiệp chống thấp khớp châu Âu, tại Berlin, Đức.
Tại hội nghị thường niên Hiệp hội Các nhà khoa học dược Mỹ (AAPS) tổ chức cuối tháng 10/2011 vừa qua, nhóm nghiên cứu Benech Reseach và Pjizer của Mỹ đã công bố kết quả một nghiên cứu mang tính khả thi cao, sử dụng hạt nano để đưa thuốc chống viêm vào khoang khớp gối, tăng thời gian lưu giữ thuốc và kéo dài tác dụng của thuốc. Qua thử nghiệm cho thấy, 70% hạt nano có chứa thuốc này lưu lại trong khoang gối dài tới hơn một tuần so với một hoặc hai ngày ở liệu pháp truyền thống.


Trong kỹ thuật này, các hạt nano tích điện dương mang thuốc liên kết với tích điện âm của các phân tử tự nhiên trong khớp gối để tạo ra dạng gel. Đến lượt nó, gel lại đóng vai trò hoạt hoá giống như một kho chứa để lưu giữ thuốc. Phương pháp này khắc phục hiện tượng rửa trôi thuốc thường thấy ở các phương pháp truyền thống, làm giảm đau do ít phải tiêm, tiết kiệm chi phí và kéo dài hiệu quả trị bệnh. Theo thống kê, tại Mỹ hiện có trên 30 triệu người mắc bệnh viêm xương khớp, dự báo đến năm 2025 sẽ tăng thêm khoảng 20% nữa, vì vậy phương pháp nói trên nếu thành công sẽ mở ra triển vọng cho nhóm người mắc bệnh xương khớp.
Hầu như bệnh đau lưng chỉ có ở loài người. Sự khác biệt giữa loài người với các động vật khác là ở tư thế đi bằng 2 chân và lưng thẳng đứng. Chính tư thế này của loài người làm cho toàn bộ trọng lượng của cơ thể đè lên cột sống và bất cứ một thương tổn nào của cột sống đều có thể gây đau do khối lượng cơ thể thường trực tác động lên.

Một trong những nguyên nhân gây đau lưng là bệnh thoái hóa cột sống, các đốt xương sống bị hư tổn sẽ chèn ép các dây thần kinh nằm giữa các đốt sống và gây đau lưng, có khi đau nhiều đến nỗi bệnh nhân không thể đứng hay đi lại được. Nguyên nhân gây thoái hóa cột sống có thể là do viêm nhiễm, do tư thế lao động, tư thế đi lại hoặc do thường xuyên mang vác các vật nặng. Tuy nhiên nguyên nhân thường gặp nhất là thoái hóa bản thân xương cột sống do chứng loãng xương gây ra. Chính vì thế chứng đau lưng thường hay gặp ở tuổi về già, đặc biệt là phụ nữ.


Khối xương của con người phát triển đến đỉnh điểm vào tuổi 20 – 30 rồi sau đó sẽ suy giảm dần. Càng cao tuổi khối xương càng bị mất đi và đặc biệt đối với phụ nữ sau mãn kinh thì khối xương mất đi càng nhanh chóng. Người ta thấy rằng ở tuổi sau 60, khối xương bị giảm đến hơn một nửa so với lúc còn trẻ và khi khối xương giảm xuống dưới 40% thì bệnh loãng xương xuất hiện với các triệu chứng lâm sàng của nó như gãy xương, thoái hóa cột sống.

Xương đốt sống của người bị thoái hóa, cột sống sẽ xốp hơn so với người bình thường nên dễ bị xẹp đốt sống và sự xẹp này sẽ đè nén lên các dây thần kinh vốn hiện diện rất nhiều giữa các đốt sống và gây đau. Xương sống cũng được hỗ trợ nhiều bởi các cơ quanh cột sống và sự phát triển tốt của hệ cơ này cũng góp phần giúp nâng đỡ cột sống tránh các chấn thương do va chạm hoặc do tư thế.

Để phòng tránh loãng xương cột sống, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng. Canxi là một nguyên tố chính yếu cấu thành xương, mỗi ngày cơ thể cần khoảng 1.200 mg canxi. Thức ăn chứa nhiều calci như sữa, các sản phẩm từ sữa – đây là nguồn thực phẩm giàu canxi và dễ hấp thu nhất. Ngoài ra còn kể đến các loại rau xanh, các loại thủy sản như tôm cua, các loại cá nhỏ để ăn nguyên xương cũng cung cấp một lượng canxi đáng kể. Các viên bổ sung canxi hoặc thực phẩm có bổ sung canxi cũng là nguồn cung cấp canxi cần quan tâm nếu chế độ ăn hàng ngày không đủ đảm bảo canxi.

Đậu nành không nhiều canxi nhưng lại là thực phẩm rất tốt để phòng ngừa loãng xương. Hoạt chất Genistein có trong đậu nành được xem như là hormon estrogen thực vật, có tác dụng tương tự như estrogen sinh học và đóng góp một phần quan trọng đối với sự chắc khỏe của xương. Đậu nành có thể được chế biến dưới nhiều dạng khác nhau như sữa đậu nành, đậu hũ sử dụng trong các bữa ăn hàng ngày.

Ngoài thực phẩm ra, lối sống cũng đóng góp phần quan trọng để phòng ngừa thoái hóa cột sống. Thường xuyên vận động sẽ tăng hấp thu canxi, tập cho xương chắc khỏe. Thường xuyên đi ra ngoài trời sẽ tăng tạo vitamin D do da tiếp xúc với ánh nắng sẽ giúp tổng hợp vitamin D. Đây là vitamin giúp hấp thu và chuyển hóa canxi trong cơ thể. Nhiều khuyến cáo hiện nay về tình trạng thiếu vitamin D ở người cao tuổi do thời gian ở trong nhà quá nhiều, ngại đi ra ngoài do sợ té ngã. Thật ra nếu càng ít đi lại, ít vận động thì xương càng xốp, phản xạ của cơ bắp càng yếu và càng dễ té ngã. Khi đã bị té ngã thì lại dễ dàng bị gãy xương hoặc nhẹ thì rạn nứt xương gây đau lưng, đau cột sống.

Ăn uống và lối sống được xem như là hai yếu tố quan trọng để phòng ngừa loãng xương, đặc biệt là chứng thoái hóa xương cột sống ở người cao tuổi.
Bạn bị đau lưng? Tiêm và phẫu thuật là điều trị bên ngoài còn tập luyện và làm theo lời khuyên là điều trị từ bên trong. Nhưng chúng có tốt cho bạn?

Chỉ một số người suốt đời không bao giờ phải chịu tình trạng đau thắc lưng. Mỗi năm cứ 3 người thì có 1 người gặp phải tình trạng rắc rối này và khoảng 5 triệu ngày công lao động không được tính là do chứng đau lưng.

Nhiều người bị chứng đau lưng dai dẳng kéo dài hàng tuần, hàng tháng, thậm chí là hàng năm. Với những người này, họ thường không thể đi làm, tan vỡ hôn nhân, trở nên trầm cảm và lãnh đạm.

Vấn đề là tất cả các bác sĩ đều nhận thấy là khó có thể chỉ ra đích xác nguyên nhân gây ra tình trạng này. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, nó được cho là do tình trạng căng cơ và dây chằng liên quan với cột sống. Tư thế sinh hoạt sai, thiếu luyện tập và phải mang vác nhiều vật nặng cũng có thể làm tình trạng bệnh thêm trầm trọng.

Vậy phải làm gì? Tháng trước, Viện NICE Vương quốc Anh (National Institute for Clinical Excellence) đã công bố hướng dẫn mới trong việc điều trị đau lưnng mãn. Những khuyến nghị này xuất phát từ các phương pháp đang lưu hành. Ví như với những trường hợp đau lưng mãn không rõ lý do thì sẽ áp dụng các phương pháp thay thế chẳng hạn như châm cứu, bấm huyệt và liệu pháp tâm lý chứ không phải là tiêm steriod, một trong những cách điều trị đau lưng phổ biến.

Và chỉ trong trường hợp bệnh đặc biệt nghiêm trọng mới chỉ định phẫu thuật cột sống.

Bất kỳ ai bị đau lưng cũng đều chỉ có một câu hỏi: cách điều trị nào hiệu quả nhất, liệu họ có nên điều trị theo hướng dẫn hay theo kinh nghiệm.

Dưới đây là ý kiến và quan điểm của họ về vấn đề này:

LUYỆN TẬP

Trong nhiều năm, nghỉ ngơi trên giường được coi là cách tốt nhất để giảm đau lưng nhưng ngày nay, người ta nhận thấy càng vận động nhiều, các cơ bắp và dây chằng liên quan với cột sống sẽ càng khỏe mạnh.

Trong một cuộc khảo sát lớn tại Anh, nghiên cứu về Lưng và sự tập luyện cho thấy những người thường xuyên tập luyện (tập luyện hằng ngày từ 1 tháng trở lên) sẽ giảm đau lưng hơn những người chỉ nghỉ ngơi.

“Đối với những người bị đau lưng không rõ nguyên nhân, luyện tập là việc tốt nhất họ có thể làm lúc này”, TS Dries hettinga, trưởng nhóm nghiên cứu và công tác tại tổ chức Back Care (chăm sóc lưng) cho biết.

Đại diện của Hiệp hội Vật lý trị liệu cũng đồng ý với quan điểm trên: “Luyện tập làm tăng sự dẻo dai của các múi cơ, có tác dụng nâng phần trên của cơ thể và thường bị suy yếu do lối sống tĩnh tại. Cơ bắp dẻo dai sẽ nâng đỡ được cột sống, giảm đau. Điều quan trọng nhất là cần vận động càng nhiều càng tốt, từ đi bộ, đi bơi đến tập Pilate”.

Tuy nhiên, hãy cẩn thận với các môn tập có thể gây tổn thương thêm như aerobic.

Theo khuyến nghị của NICE, luyện tập là một trong những liệu pháp điều trị đầu tiên nhưng cần tập luyện đúng để đảm bảo hiệu quả đề ra.

CHỈNH TƯ THẾ

Việc hiệu chỉnh lại các tư thế ngồi, đứng, mang vác… chưa đúng sẽ giúp giảm đau lưng hiệu quả

XOA BÓP, BẤM HUYỆT

Liệu pháp dùng tay để nắn bóp và điều chỉnh các vị trí trên cột sống sẽ giúp giảm đau và mềm lưng. Bấm huyệt được xem là một trong những liệu pháp cơ bản giúp giảm đau lưng.

Biện pháp này chỉ hiệu quả khi người thực hiện bấm huyệt hiểu rõ về các huyệt đạo và có kỹ thuật bấm huyệt bài bàn.

Ngoài ra, cần kết hợp thêm với luyện tập (treo người thẳng lưng – tập xà).

CHÂM CỨU

Đây là một liệu pháp y học cổ truyền phương Đông dùng các cây kim để châm vào các huyệt đạo trên cơ thể mà được cho là tác động tới các dây thần kinh và làm giảm đau.

Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy 60% những người châm cứu (liên tục trong vòng 2 – 3 tuần và rồi giảm xuống 1 lần/tuần trong 1 tháng) đã giảm đau và phục hồi chức năng so với 39% những người được chăm sóc y tế theo Tây y.

MÁT XA

Được cho là một trong những liệu pháp thư giãn tinh thần và trí tuệ (phần tác động chủ yếu là da, mỡ dưới da và các cơ).

Một số nghiên cứu cho thấy mát xa giúp giảm đau và các nhà khoa học trường ĐH Miami đã phát hiện ra rằng mát xa còn giúp cải thiện giấc ngủ và nhiều vận động khác của cơ thể.

Mát xa được cho là làm tăng tiết endorphin, một chất giảm đau tự nhiên và có tác dụng “đánh lạc hướng” sự truyền các tín hiệu của các dây thần kinh lên não.

13 cuộc khảo sát cho thấy mát xa mang lại hiệu quả cao và hoàn toàn không gây tác dụng phụ và tác động của nó kéo dài tới 3 tháng sau điều trị.

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay ở người cao tuổi (NCT) tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng gây cản trở nhiều trong sinh hoạt và cuộc sống hàng ngày.
Càng lơn tuổi, bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay càng dễ phát triển. Thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay là một bệnh khớp gặp ở cả nam lẫn nữ nhưng nữ giới chiếm tỉ lệ cao hơn.
Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay, trong đó tuổi tác và giới tính cần quan tâm nhất. Bệnh thường xảy ra ở người trưởng thành, đặc biệt là NCT, trong đó nữ giới chiếm tỉ lệ 2/3 các trường hợp thoái hóa khớp bàn tay, cổ tay.



Tuổi đời càng càng cao, bệnh thoái hóa khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng càng gia tăng do hiện tượng lão hóa các chức năng của cơ thể đặc biệt đối với nữ giới do suy giảm lượng hoóc-môn sinh dục. Sự thoái hóa khớp là do lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng giảm sút một cách đáng kể và từ từ làm cho tổ chức sụn khớp thiếu chất dinh dưỡng. Trong khi sự thiếu hụt ngày càng gia tăng, sưc chịu đựng của sụn khớp càng ngày càng giảm bởi các tác động hàng ngày, liên tục lên khớp. Những người phải làm việc nhiều với bàn tay của mình như phụ nữ làm công việc nội trợ (giặt giũ, lao động tay chân…), béo phì, gia tăng trọng lượng… càng dễ mắc bệnh thoái hóa khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng.  Sự thoái hóa khớp cũng hay gặp ở bàn tay, ngón tay nào vận động nhiều hơn. Người thuận tay phải thì khớp bàn tay phải va khớp các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa cũng sẽ dễ bị thoái hóa hơn các khớp bàn tay trái không thuận và khi bị thoái hóa thì các khớp bàn tay phải cũng có biểu hiện nặng hơn, thoái hóa, biến dạng khớp nhiều hơn. Trong các trường hợp viêm đa khớp dạng thấp, hiện tượng thoái hóa khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay cũng chiếm tỉ lệ cao hơn các khớp khác.
Ngoài ra, cũng nên đề cập đến hiện tượng thoái hóa khớp do sự thiếu hụt canxi. Tỉ lệ người thiếu hụt canxi chiếm đa số là người lớn, trong đó đáng chú ý nhất là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh.
Thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay cũng có thể gặp sau chấn thương, gãy xương, viêm khớp dạng thấp, bệnh gút hoặc một số bệnh  rối loạn chuyển hóa như bệnh đái tháo đường. Đối với NCT còn có một nguyên nhân nữa là ít vận động cơ thể hoặc lười vận động.
Triệu chứng
Thường bệnh được biểu hiện sau khi nghỉ ngơi một thời gian dài như sau ngủ dậy hoặc sau khi ngủ buổi trưa. Có một số triệu chứng cần quan tâm là đau, cứng khớp.
Đau xảy ra khi vận động, gọi là đau kiểu cơ học và giảm đau khi các khớp được nghỉ ngơi (không cử động, không vận động). Đau chỉ biểu hiện ở mức nhẹ hoặc trung bình, thời gian kéo dài khoảng từ 15 – 30 phút, có khi lâu hơn, tùy thuộc vào mức độ nặng, nhẹ của tổn thương khớp. Các khớp bị đau đôi khi còn bị sưng nhẹ.
Biểu hiện cứng khớp thường rõ ràng hơn nhiều. Cứng khớp xuất hiện lúc mới ngủ dậy buổi sáng sớm hoặc sau giấc ngủ buổi trưa, biểu hiện như khó cứ động hoặc cử động không mềm mại, uyển chuyển và dần dần bàn tay sẽ khó thực hiên các thao tác trong sinh hoạt hàng ngày như cầm nắm đồ vật không chắc (có khi cầm không chắc bị rơi đồ vật)… Các cơ ở bàn tay, ngón tay cũng sẽ bị teo nhỏ dần và các khớp bàn tay, ngón tay bị biến dạng.
Để chẩn đoán bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay  thì ngoài các triệu chứng lâm sàng còn có thể chụp X-quang khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay. Kỹ thuật chụp X-quang tuy đơn giản nhưng giúp cho bác sĩ khám bệnh chẩn đoán bệnh chính xác hơn. Trên các phim chụp bàn tay, ngón tay bị thoái hóa khớp có thể thấy hiện tượng mọc gai xương, hẹp các khe khớp, mất vôi, hình dải, khuyết xương, xói mòn hoặc khuyết xương hoặc biến dạng khớp…
Nếu có điều kiện cũng nên tiến hành một số xét nghiệm như máu lắng, CRP (C – Reactive Protein), xác định yếu tố dạng thấp RF (Rheumatoid Factor)… Những trường hợp nghi ngờ bị thoái hóa khớp nên được khám bệnh sớm để xác định và điều trị kịp thời, tránh để xảy ra các biến chứng về xương khớp. Vì vậy, sau khi được chẩn đoán là thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay nên tuân thủ các chỉ định điều trị của bác sĩ khám bệnh, nhất là các bác sĩ chuyên khoa xương khớp.
Phòng bệnh như thế nào?
Những đối tượng có nguy cơ cao bị thoái hóa khớp bàn tay, cổ tay (phụ nữ làm việc chân tay nhiều, những người nội trợ…) tránh lao động nặng, nhọc. Khi làm việc với đôi tay của mình, nên có thời gian nhất định để bàn tay được nghỉ ngơi không làm việc liên tục nhiều giờ liền. Trong cuộc sống hàng ngày hoặc trong lao động nếu có máy móc thay thế cho bàn tay, nên tận dụng (ví dụ máy rửa bát đĩa, cối xay thịt…).
Sau mỗi  buổi sáng ngủ dậy nên tập nhẹ nhàng các khớp cổ tay, bàn tay và ngón tay. Nếu có điều kiện nên ngâm bàn tay vào nước muối sinh lý, ấm, mỗi ngày khoảng 2 lần (sáng và tối trước khi đi ngủ), mỗi lần khoảng 10 phút. Tránh hiện tượng tăng cân, ăn uống hợp lý, năng vận động cơ thể. Nếu mắc một số bệnh về chuyển hóa hoặc chấn thương bàn tay, ngón tay nên điều trị dứt điểm và theo chỉ định của bác sĩ.
Chỉ cần dành ra 5-10 phút mỗi ngày cho bài tập One Arm Rows, bạn sẽ dễ dàng loại bỏ chứng mỏi cổ-vai-lưng và bảo vệ cột sống mỗi khi phải ngồi làm việc với máy tính.
Ngồi làm việc lâu với máy tính sẽ khiến bạn cảm thấy mỏi vai, gáy và lưng. Nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, rất có thể sẽ dẫn đến tổn thương cột sống. Những lúc như vậy, bạn chỉ mong được ai đó massage để thư giãn. Nhưng bạn lại không có thời gian để đến các tiệm massage.

Vậy thì hãy dành thời gian cho bài tập One Arm Rows sau đây, chắc chắn bạn sẽ giải quyết được những cơn đau mỏi vai, lưng, cổ của mình, thoải mái làm việc.





Bài tập này bao gồm các động tác kéo tạ tay, vừa có tác dụng cho phần lưng săn chắc hơn và giúp vai, cổ không bị mỏi. Bạn có thể tập bài tập này tại nhà hoặc ngay tại văn phòng.

Một số lưu ý khi tập bài tập One Arm Rows:

- Vai giữ thẳng, không di chuyển
  - Tay thẳng, vuông góc với mặt đất
- Đưa tay lên cao bằng hông
Từ “thoái hóa” thường gợi nhắc đến tuổi già, đặc biệt là khi chúng ta nói “thoái hóa cột sống”. Tuy nhiên, với lối sống gắn với bàn làm việc suốt nhiều giờ, đông cứng trước màn hình máy tính và ít tập thể dục như hiện tại, có thể thoái hóa cột sống xảy ra ngay trong độ tuổi 20.

Thoái hóa cột sống là kết quả của sự hao mòn cột sống tích lũy trong nhiều năm, từ các hoạt động thường ngày đến hoạt động gắng sức hoặc chấn thương. Thường thì  thoái hóa cột sống trải qua 3 giai đoạn. Đầu tiên là những người trong nhóm tuổi 20 đến 40, bộ phận chịu ảnh hưởng nhiều nhất là đĩa đệm – cấu trúc giữa hai cơ quan đốt sống liền kề nhau.

Chưa già cũng thoái hoá cột sống

Thoái hóa đĩa đệm là nguyên nhân các bệnh đau lưng thông thường mà nhiều người vẫn hay than phiền. Trong giai đoạn đầu này, cũng có thể xảy ra tình trạng đoạn thoái hóa va chạm vào các rễ thần kinh trong ống tủy sống gây ra các cơn đau rễ thần kinh (đau thần kinh tọa), tỏa xuống đùi và chân. Giai đoạn thứ hai của thoái hóa ảnh hưởng đến những người ở độ tuổi 40 trở lên. Cùng với đĩa đệm, các khớp mặt cũng dần thoái hóa, kết quả là ống tủy sống trở nên rất hẹp còn các khớp mặt khó đảm nhiệm chức năng của chúng. Giai đoạn thứ ba của thoái hóa ảnh hưởng tới những người trên 60 tuổi. Những cơn đau âm ỉ, rả rích qua một thời gian không để ý đến có thể trầm trọng hơn khiến sức khỏe giảm đi trông thấy. Đôi khi có những cơn đau cấp tính khiến người bệnh cảm thấy nhói buốt, đau cả sang những vùng khác như vai, thần kinh toạ, đau hông và đùi đến mức không thể đi lại lâu được.
Dấu hiệu cảnh báo

Cảm giác yếu: xảy ra khi thực sự có áp lực nén lên dây thần kinh gây tổn thương cho các sợi thần kinh. Nếu để nguyên không chữa trị, tình trạng tê liệt có thể xảy ra và kéo dài mãi.

Tê liệt hay nhói như kim châm: Cảm giác tê trong một khoảng thời gian ngắn có thể là dấu hiệu sớm của hiện tượng dây thần kinh bị chèn ép. Nếu liên tục, có nghĩa là sợi thần kinh đã bị thương tổn và sớm kéo theo hiện tượng yếu cơ.

Mất kiểm soát bàng quang và ruột: Đây là triệu chứng rất nghiêm trọng, lập tức phải nhập viện. Rơi vào tình huống bất ngờ không kiểm soát được nghĩa là rễ và khối dây thần kinh nằm trong cột sống bị chèn ép nặng, nếu không chữa trị, sẽ gây tàn tật vĩnh viễn.

Đau dai dẳng mỗi khi chuyển động cổ: Đau vùng cổ thường kéo dài từ vài ngày đến 1-2 tuần. Nếu cơn đau vẫn tiếp diễn ở mức độ nghiêm trọng và xấu dần đi, đặc biệt là sau khi ngã hay tai nạn, có thể nếp đốt sống cổ gặp bất ổn.

Đau lan xuống cánh tay: Triệu chứng đau kiểu này là do các rễ thần kinh bị đè bẹp (thường là do một đĩa đệm thoát vị). Ban đầu, cảm giác chỉ có thể là đau, nhưng với thời gian, người bệnh có cảm giác nhói như kim châm và tay yếu dần đi.
Cẩn trọng không thừa

Với những người có dấu hiệu đau lưng, thoái hóa khớp, hãy để ý xem cơn đau có chiều hướng xấu đi vào cuối ngày, sau một ngày dài làm việc hay không. Thừa cân và lối sống ít vận động sẽ khiến nguy cơ đau tăng nhiều hơn. Một khi cột sống bị thoái hóa, đó là một quá trình không thể đảo ngược được. Chỉ có điều trị và tập luyện đúng cách sẽ làm chậm lại quá trình này, trong đó tập Thái cực quyền, đi xe đạp, bơi lội là rất tốt để phòng ngừa đau lưng do thoái hoá cột sống.

Thoái hóa cột sống có thể phòng ngừa được, nguyên tắc hàng đầu là luôn giữ tư thế đúng trong mọi hoạt động, không nên để cột sống cổ, lưng ở tư thế không đổi quá lâu. Cụ thể, với công việc văn phòng phải ngồi nhiều, luôn giữ tư thế thẳng lưng, đầu gối hơi cao hơn háng một chút, khoảng 1-2 tiếng cần làm những động tác thể dục nhẹ nhàng. Người lái xe đường dài sau khoảng hai giờ phải nghỉ ngơi 10-15 phút để tập cho cơ cổ, cơ lưng.

Làm nặng sai tư thế cũng thúc đẩy tiến trình thoái hóa cột sống, thoái hóa đĩa đệm tăng lên, chú ý tránh những động tác quá nhanh và mạnh, nhất là những động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống. Khi nằm ngủ, cần gối đầu với độ dày vừa phải, đảm bảo cho trục của đoạn cột sống cổ ở trên cùng một trục thẳng của cột sống lưng.

Lưu ý, lứa tuổi học sinh cũng có thể mắc bệnh về cột sống nếu không có mẫu bàn ghế phù hợp với lứa tuổi, thể chất. Và để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, đến lứa tuổi ngoài 40 cần tập thể dục đều đặn và cố tránh bị béo phì hoặc bị tiểu đường.
Theo Business Time – Nguồn Anninhthudo.vn
Điều trị thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cột sống bằng sóng radio là một phương pháp được ứng dụng ở nhiều chuyên khoa thần kinh, cột sống ở nước ta. Tuy nhiên đây là một kỹ thuật nội khoa với chỉ định rất hạn chế. Vì vậy không phải ai cũng có thể điều trị hiệu quả bằng biện pháp này.

Dùng sóng radio điều trị thoát vị đĩa đệm

Dùng sóng radio điều trị TVĐĐ thuộc phạm vi điều trị nội khoa. Các phương pháp điều trị nội khoa bao gồm dùng thuốc, vật lý trị liệu, tia hồng ngoại, chườm nóng… nhằm hạn chế sự chèn ép của khối thoát vị đối với các rễ thần kinh. Riêng với phương pháp dùng sóng radio được tiến hành như sau: Người ta đưa sóng radio vào nơi đĩa đệm bị thoát vị thông qua một mũi kim. Với nguồn nhiệt độ từ 40-700C, các bước sóng radio sẽ tác động đến khối thoát vị, làm cho khối thoát vị thu nhỏ lại, trở về đúng vị trí, làm cho nó không còn chèn ép vào các rễ thần kinh cột sống nữa. Ưu điểm của nó là ít đau, bệnh nhân có thể ra viện trong ngày, ít gặp biến chứng.

Tuy nhiên đây là một biện pháp nội khoa có chỉ định rất hạn chế. Nếu chỉ định đúng thì có thể mang lại thành công khoảng 80-90%. Tại Việt Nam, để sàng lọc ra những bệnh nhân theo đúng yêu cầu chỉ định của phương pháp là không dễ vì đa số bệnh nhân đến bệnh muộn, có nhiều biến chứng.


Thoát vị đĩa đệm.
Điều trị bằng sóng radio không thay thế được phẫu thuật

Dùng sóng radio là biện pháp nội khoa điều trị TVĐĐ vì thế nó cũng không thay thế được phẫu thuật khi không mang lại hiệu quả. Trước đây vài năm người ta rộ lên điều trị TVĐĐ bằng tia laser. Nguyên lý của phương pháp này là dùng hiệu ứng nhiệt của laser đốt hủy phần đĩa đệm thoát vị, giải phóng rễ thần kinh. Tuy nhiên nhiều trường hợp điều trị không đạt kết quả, thậm chí đã tiến hành laser vài lần. Thất bại của điều trị laser không phải tại phương pháp mà phải xem lại chẩn đoán đã đúng chưa, kỹ thuật thực hiện có đảm bảo không, người bệnh có tuân thủ đúng những yêu cầu sau điều trị không…

Chỉ định của phương pháp này rất hẹp, nó chỉ được áp dụng cho những bệnh nhân chỉ có TVĐĐ trong thời gian chưa lâu và không có bệnh lý nào khác ở cột sống đi kèm. Trong khi hầu hết bệnh nhân TVĐĐ ở nước ta đến bệnh viện điều trị thường có thời gian mắc bệnh đã lâu, đều có các bệnh lý cột sống đi kèm, hay gặp nhất là thoái hoá cột sống, gai cột sống… Điều trị bằng sóng radio chỉ giải quyết được phần thoát vị mà không xử trí được các bệnh cột sống khác, do vậy những bệnh nhân không được chẩn đoán chính xác sẽ vẫn còn đau sau điều trị, sẽ làm nhiều người nghi ngờ biện pháp này.

Đối với người bệnh đã xác định bị TVĐĐ, cần được khám kỹ xem có mắc các bệnh lý khác ở cột sống không mới nên tiến hành điều trị bằng radio. Nếu bệnh đã lâu, có các bệnh khác ở cột sống đi kèm, các biện pháp điều trị nội khoa không hiệu quả thì nên được phẫu thuật sớm.          
Đau cột sống thắt lưng là một triệu chứng đau cấp tính hoặc mạn tính ở vùng ngang đốt sống thắt lưng L1 – L5 và S1 bao gồm cột sống thắt lưng và các tổ chức xung quanh do nhiều nguyên nhân gây ra (bệnh lý đĩa đệm, cột sống, thần kinh, nội tạng…).



Y học cổ truyền phân dạng và bài thuốc dưới đây.
Đau lưng cấp do co cứng cơ

Triệu chứng: Đau đột ngột sau khi bị lạnh, đau nhiều không cúi được, đau thường khu trú ở một bên cột sống, các cơ lưng co cứng, ấn đau, mạch trầm huyền.

Bài thuốc: Quế chi  8g, rễ lá lốt  8g, thiên niên kiện 8g, ý dĩ 16g, ngưu tất 16g, tỳ giải 16g, kê huyết đằng 16g, trần bì 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Đau lưng
Đau lưng do thay đổi tư thế, mang vác nặng

Triệu chứng: Sau khi mang vác nặng hoặc sau một động tác thay đổi tư thế đột nhiên bị đau, thường là đau một bên, đau dữ dội, vận động hạn chế, không cúi được.

Thuốc: Muối rang đắp nóng; Chườm ngải cứu nóng; Cồn xoa bóp: Ô đầu sống, quế, đại hồi (không được uống vì ô đầu độc).
Đau lưng do thoái hoá cột sống

Triệu chứng: Đau lưng âm ỉ, hay tái phát, ăn ngủ kém, mạch nhu hoãn, trầm nhược.

Bài thuốc: Độc hoạt 12g, tang ký sinh 12g, phòng phong 12g, tế tân 4g, quế chi 6g, ngưu tất 12g, đỗ trọng 12g, đẳng sâm 12g, phục linh 12g, cam thảo 6g, bạch thược 12g, đương quy 12g, thục địa 12g,  đại táo 12g. Sắc uống.
Nguồn Bee.net.vn
(ĐTĐ) – Trở trời khiến rất nhiều người bị đau ở vùng cổ, vai, gáy. Tuy nhẹ hơn so với chứng trúng gió méo miệng, nhưng nếu bệnh nhân chủ quan, không chữa trị ngay sẽ dẫn tới viêm gân cơ, hoặc chèn lên các dây thần kinh khiến bệnh nhân đau nhức, phải chữa trị rất lâu mới dứt bệnh.

Cơ chế gây bệnh
Kể từ đầu mùa lạnh, chị Hà Ly (Hà Nội) đã mấy lần bị đau ở vùng cổ, vai, gáy. Chỉ cần đi xe máy không quàng khăn là bị đau ngay. Có lần gội đầu xong, chị ra đường, khi về thấy nhức một điểm trên vai. Dù đã tự xoa bóp nhưng cảm giác đau ngày càng tăng, chuyển lên cổ, cằm, hai mang tai, rồi đau khắp vùng cổ vai gáy, ngây ngấy như bị sốt, rất khó chịu. Có lần chị cố chịu vài ngày, chứng đau lan xuống cả cánh tay với cảm giác tê bì, nóng rát, hạn chế vận động cột sống cổ…

Theo TS.BS Lương Tài (BV Châm cứu TƯ), chứng đau cổ, vai, gáy gặp ở mọi lứa tuổi do rất nhiều nguyên nhân như: Gội đầu, tắm đêm, đi đêm ngấm sương lạnh, tư thế ngồi sai, tư thế lao động sai… Nhưng chủ yếu vẫn do bị nhiễm lạnh. Ngoài ra, những người phải ngồi lâu ở một tư thế cũng rất hay mắc. Người hay nằm nghiêng, gối cao, lúc ngủ dậy, cũng hay bị cứng cơ, vẹo cổ.
TS. BS Phạm Hữu Lợi (Phó Trưởng khoa Nội, BV Châm cứu TƯ) cho biết, tuổi trung niên hệ mạch máu đã giảm tính dẻo dai, đàn hồi nên hay bị đau cổ, vai, gáy, ảnh hưởng lớn đến công việc, sinh hoạt hằng ngày. Chứng đau cổ, vai, gáy nhẹ chỉ cần châm cứu, xoa bóp 1-2 lần là khỏi. Nhưng để xuống tới huyệt phế du là đã bị nhiễm lạnh lâu, ngấm sâu vào cơ thể, chữa sẽ lâu hơn. Nếu cơ bị co lâu ngày làm máu lưu thông kém, các khe đốt sống cổ co hẹp chèn ép lên các dây thần kinh vai, gáy khiến bệnh nhân đau đớn và làm suy thoái đốt sống cổ nhanh hơn.
Không tự lắc cổ, xoay vặn mình
Theo TS.BS Phạm Hữu Lợi, một trong những sai lầm bệnh nhân hay mắc phải là thường đắp khăn lạnh vào chỗ đau ở vùng cổ, vai, gáy để mong giảm đau. Điều này rất nguy hiểm vì những vùng trên bị đau do trúng phong hàn, khi gặp lạnh sẽ càng thêm đau.
Một thói quen khác nguy hiểm không kém là tự lắc cổ khi đau mỏi và xoay vặn mình khi ngủ dậy. BS Phạm Hữu Lợi cho biết, BV Châm cứu TƯ vừa điều trị cho một bệnh nhân khi bị đau mỏi cổ đã lắc cổ mạnh một cái. Hậu quả là bị trật khớp cổ, phải đi cấp cứu, may mà chưa nguy tới tính mạng.
Bác sĩ Phạm Hữu Lợi khuyên, khi đau cổ vai gáy chỉ nên vận động nhẹ nhàng, không nên vận động mạnh, cũng không lắc cổ. Chỉ nên vận động mạnh khi có chỉ định của bác sĩ.
Chữa Tây y hay Đông y?
Chứng đau cổ, vai, gáy chỉ cần đến các cơ sở y tế điều trị (thường là ngoại trú) bằng cách châm cứu, xoa bóp, vật lý trị liệu rất hiệu quả. Tuỳ nguyên nhân, mức độ bệnh thầy thuốc sẽ điện châm hay thủy châm, ôn châm vùng cổ, vai, gáy, kết hợp xoa bóp, bấm huyệt vận động nhẹ nhàng cổ và khớp vai… Hoặc dùng máy từ nhiệt chườm nóng kết hợp uống thuốc giãn cơ… Nếu bệnh nhẹ, chỉ cần châm cứu trị liệu 2 ngày là khỏi, bệnh nặng thì mất khoảng 2-3 tuần. Nếu đau xuống tới huyệt phế du sẽ điều trị ôn châm (vừa châm cứu, vừa hơ ngải vào đốc kim làm kim nóng, lan tới huyệt để trị hàn). Với Tây y, chứng đau cổ, vai, gáy do thời tiết thường được bác sĩ chuyên khoa chỉ định dùng thuốc giảm đau, giãn cơ, hoặc cao dán, ưu điểm là nhanh khỏi nhưng hết thuốc có thể sẽ bị đau lại và hay tái phát.
Một số trường hợp đau cổ, vai, gáy nhẹ bệnh nhân có thể xoa bóp nhẹ nhàng ở cổ và vai bằng dầu nóng sẽ cảm thấy dễ chịu. Cách nữa là hơ nóng ngải cứu cho vào khăn chườm nóng vào vùng cổ, vai, gáy. Hỗ trợ thêm bằng các động tác day xoa, vỗ, gõ.
BS Nguyễn Hữu Lợi khuyến cáo, khi điều trị, người bệnh cố gắng chữa trị dứt điểm, chớ thấy hơi bình thường đã bỏ vì khi ấy hàn khí tích trong cơ thể vẫn còn, khi trái gió trở trời, gặp lạnh là tái phát.
NÊN:
- Bổ sung khoáng chất cho cơ thể như canxi, kali và các vitamin C, B, E.
- Đi khám bệnh khi có dấu hiệu đau vùng cổ, vai, gáy với những người làm công việc văn phòng.
- Tập các động tác dưỡng sinh ưỡn cổ như cúi đầu về phía trước, ngửa đầu ra phía sau, sau đó nghiêng đầu sang trái, sang phải rồi xoay tròn đầu và cổ, cử động cổ lên xuống rất tốt với cổ, vai, gáy.
- Ngồi đúng tư thế bằng cách luôn giữ ngực thẳng, cằm hơi cúi về phía trước, lưng và cột sống cùng nằm trên một đường thẳng, tránh nghiêng cổ lâu một phía.
- Đứng đúng tư thế bằng cách giữ thẳng ngực, eo và lưng tạo thành một đường cong tự nhiên.   – Thay đổi tư thế để cơ bắp vùng vai, gáy được thư giãn.
- Khi lái xe, đầu gối để cong vuông góc, tay và vai tạo ra đường cong tự nhiên, phần eo lưng phải có điểm tựa, cổ giữ thẳng sẽ giảm tổn thương vai, cổ.
- Chỉ nên gối cao khoảng 10cm khi ngủ, vừa khít với độ cong sinh lý sau gáy.
KHÔNG NÊN:
- Hở gáy khi đi xe máy mùa lạnh, vì ở gáy có huyệt phong trì, đi xe máy gió tạt vào làm các huyệt này nhiễm lạnh là bị đau cổ, vai, gáy.
- Gội đầu lâu. Các huyệt phong trì lạnh cũng bị đau cổ, vai, gáy.
- Để tóc ướt ra đường vì gió thổi, hơi nước bốc lên sẽ lấy nhiệt của cơ thể, chỗ gáy bị lạnh sẽ gây đau vùng cổ, vai, gáy, thậm chí bị cảm.
- Nhảy ngay vào bồn khi tắm.
- Xối nước thẳng vào đầu, thân mình.
- Cúi đầu quá nhiều về phía trước khi ngồi học, đọc sách, làm việc…
- Căng cổ ngước nhìn lên cao lâu.
- Xoay đầu thường xuyên về bên đau.
- Nâng hoặc kéo một vật với cổ gập, đọc sách với tư thế cổ gập lâu.
- Ngủ với gối cao hoặc nhiều gối…
(Theo tư vấn của TS. BS Phạm Hữu Lợi)

Đau lưng là bệnh thường gặp đối với tất cả mọi người. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểm 6 biện pháp giúp trị bệnh đau lưng để chấm dứt tình trạng này.

Bệnh thường gặp ở phụ nữ trung niên, nhất là những người làm việc bàn giấy. Do ngồi một chỗ quá lâu, hay cúi khom về phía trước nên các cơ lưng bị căng, gây đau. Về lâu dài, chứng đau lưng có thể gây biến dạng cột sống và gây lên một số bệnh như còng lưng, thoái hóa cột sống…

Bệnh thường gặp ở phụ nữ trung niên, nhất là những người làm việc bàn giấy
Muốn trị bệnh đau lưng, bạn nên:
6 biện pháp giúp trị bệnh đau lưng hiệu quả 2
Tập thể dục thường xuyên giúp trị bệnh đau lưng
- Tập thể dục bằng cách đi bộ để giúp xương và cơ lưng được dẻo dai và đây là cách trị bệnh đau lưng hiệu quả nhất.
- Trị bệnh đau lưng bằng cách ăn uống khoa học với các loại thực phẩm có hàm lượng chất can xi cao, giảm chất béo.
- Uống các thuốc giảm đau theo chỉ định của thầy thuốc vì đa số thuốc kháng viêm, giảm đau có thể làm bạn bị đau dạ dày và thận do tác dụng phụ.
6 biện pháp giúp trị bệnh đau lưng hiệu quả 3
Ở nơi làm việc, nên ngồi thật thẳng
- Ở nơi làm việc, nên ngồi thật thẳng, không tựa hẳn vào lưng ghế, chỉ dựa từ thắt lưng trở xuống, chân đặt thẳng ngang với nền nhà, đầu gối vuông góc. Nếu làm việc với máy vi tính thì phần cao nhất của màn hình phải đặt ngang mắt bạn. Muốn trị bệnh đau lưng thì bạn nhất định không ngồi một chỗ quá lâu, cách nửa tiếng bạn nên đứng dậy thư giãn bằng cách vươn vai hay đi lại tại chỗ.
- Bạn không nên đi những giày cao gót thường xuyên.
- Ở nhà, nên mặc đồ lót bằng loại vải mềm mại, thoải mái, nếu cần mang vác một vật nặng hay nhặt lên một vật gì, đừng cúi rạp người xuống mà hãy giữ trọng tâm cho cơ thể, lưng thật thẳng, quỳ gối xuống từ từ nhấc lên.
- Khi ngủ, tránh nằm sấp. Muốn trị bệnh đau lưng thì bạn nên từ bỏ những tấm đệm quá mềm, dễ bị lún.

Thay đổi chế độ ăn uống hàng ngày có thể giúp chữa bệnh đau khớp gối. Những gợi ý sau đây sẽ giúp bạn giảm những cơn đau và cải thiện chức năng khớp gối.

Một số thực phẩm có tính kháng viêm và giảm đau mạnh mẽ. Chúng có tác dụng giống như một số loại thuốc cần kê toa, bao gồm:
1. Cá

Cá hồi giàu omega -3 giúp kháng viêm
Lượng axit omega – 3 tự nhiên trong cá có tác dụng kháng viêm. Chúng có tác dụng làm dịu các cơn đau nhức đầu gối. Trong nhiều nghiên cứu lâm sàng tại Mỹ, axít béo omega – 3 trong cá có tác dụng giảm đau và giảm tình trạng cứng khớp vào buổi sáng ở những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. Các loại các giàu omega – 3 bao gồm cá hôi, các ngừ, cá mòi, cá trích, cá tuyết, cá thu và cả dầu cá. Ngoài ra, chế độ ăn nhiều cá còn các tác dụng chữa bệnh đau khớp gối hiệu quả khi chúng an toàn hơn dùng thuốc và không có tác dụng phụ.
2. Nước cam ép
Nước cam là nguồn cung cấp vitamin C phong phú, một loại chất dinh dưỡng có tác dụng bảo vệ khớp. Một nghiên cứu trong 10 năm tại Úc cho thấy những bệnh nhân uống một lượng lớn vitamin C có ít nguy cơ thoái hoá khớp gối hớn so với những người bình thường. Ngoài nước cam, ớt xanh, bưởi, dâu tây cũng giàu vitamin C.
Nước cam ép chữa bệnh đau khớp gối
Nước cam ép giàu vitamin C
3. Rau bina và hành tây
Bổ sung rau bina và hành tây trong chế độ ăn hàng ngày sẽ giúp chữa bệnh đau khớp gối hiệu quả. Trong rau xanh như bina có chứa một lượng lớn chất chống oxy hoá lutein và zeaxathin có khả năng giảm đau đầu gối do viêm xương khớp. Ngoài ra, lutein và zeaxathin có khả năng cải thiện tầm nhìn.
Bên cạnh đó, hành tây là nguồn cung cấp quercetin – một chất có tính kháng viêm mạnh mẽ. Táo, nho đỏ, trà xanh cũng rất giàu quercetin.
4. Gừng
Gừng là một loại thảo mộc đã được sử dụng từ rất lâu giúp giảm đau dạ dày. Trong các nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, gừng cũng có tác dụng chữa bệnh đau khớp gối nhờ khả năng kháng viêm mạnh mẽ. Gừng có thể dùng làm gia vị cho các món ăn hoặc chế biến thành các món mứt, trà.
Trà gừng chữa bệnh đau khớp gối
Trà gừng giúp giảm đau, kháng viêm
5. Tránh tinh bột tinh chế.
Một số nghiên cứu cho thấy rằng chế độ ăn giàu carbonhydrate tinh chế làm tăng tình trạng viêm đau các khớp. Bánh mỳ trắng, mỳ ống, bánh nướng là những thực phẩm mà bệnh nhân viêm khớp cần tránh.
Những gợi ý trên đây sẽ giúp người bệnh chữa bệnh đau khớp gối hiệu quả.
Chúc các bạn luôn khỏe mạnh!

Không có loại thuốc chữa bệnh thoái hóa khớp hoàn toàn. Mục tiêu điều trị là giảm đau và duy trì sức khỏe xương khớp.

Bạn có thể dùng các loại thuốc chữa bệnh thoái hóa khớp như sau:
Acetaminophen (Tylenol, và thuốc giảm đau khác): Đây là các loại thuốc có tác dụng giảm đau, nhưng không có tác dụng chống viêm. Thuốc được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị bệnh thoái hóa khớp thể nhẹ và trung bình. Tác dụng phụ của thuốc là gây tổn thương gan nếu sử dụng quá liều.

Thuốc giảm đau tại chỗ có tác dụng giảm đau do thoái hóa khớp
Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs): Các loại thuốc này có tác dụng giảm đau, kháng viêm bao gồm Advil, Motrin, Aleve,… Thuốc có thể gây đau bụng, ù tai, vấn đề tim mạch, tổn thương gan và thận. Cần cẩn trọng khi dùng thuốc cho người lớn tuổi.
Thuốc narcotic: Khi dùng thuốc phải có chỉ định của bác sĩ. Thuốc có tác dụng giảm đau do thoái hóa khớp nặng. Tác dụng phụ của thuốc bao gồm buồn nôn, táo bón, buồn ngủ và gây nghiện.
Chất cortisone: Bác sĩ sẽ tiêm thuốc có thành phần corticosteroid  vào trong khớp. Loại thuốc này được sử dụng hạn chế vì có thể làm cho tình trạng thoái hóa khớp ngày càng nặng theo thời gian.
Các loại thuốc chữa bệnh thoái hóa khớp
Thuốc điều trị thoái hóa khớp đều có tác dụng phụ
Ngoài việc dùng thuốc chữa bệnh thoái hóa khớp, người bệnh cũng có thể áp dụng một số phương pháp điều trị bổ sung như:
Vật lý trị liệu: Một chế độ tập luyện tăng cường cơ bắp xung quanh khớp làm tăng chất nhờn bôi trơn, tăng khả năng vận động và giảm đau.
Dung dịch bôi trơn: Đối với tình trạng thoái hóa khớp năng, tiêm dẫn xuất axit hyaluronic (Hyalgan, Synvisc) có thể giúp giả đau bằng cách bổ sung chất bôi trơn ở các khớp. Các loại thuốc này có thành phần tương tự như chất nhầy dịch khớp.
Phẫu thuật thay khớp: Bác sĩ sẽ phẫu thuật loại bỏ bề mặt khớp bị hư hỏng và thay vào đó bằng nhựa hoặc kim loại nhân tạo. Khớp hông và gối là 2 bộ phận thường được thay thế nhất. Rủi ro lớn nhất của phương pháp này là nhiễm trùng và hình thành cục máu đông trong động mạch.
Thuốc chữa bệnh thoái hóa khớp
Phẫu thuật thay khớp là cần thiết nếu tình trạng thoái hóa khớp nặng
Những loại thuốc chữa bệnh thoái hóa khớp kể trên đều gây những tác dụng phụ không mong muốn cho người bệnh. Do đó sử dụng các biện pháp bổ sung giúp tăng cường và duy trì sức khỏe cũng như tính linh hoạt của các khớp.

Triệu chứng của bệnh gút phổ biến nhất là đau đột ngột và nghiêm trọng ở các khớp ngón chân cái. Ngoài ra, còn có một số triệu chứng khác đi kèm.

Các triệu chứng của bệnh khớp thường xuất hiện vào ban đêm khi nồng độ axit uric tăng cao. Ngoài triệu chứng đau khớp còn kèm thoe các triệu chứng khác bao gồm.

Sưng khớp ngón chân do bệnh gút
- Sưng (viêm) các khớp bị gout
- Vùng da xung quanh khớp có màu đỏ và sáng bóng
- Da bong tróc và ngứa khi tình trạng sưng thuyên giảm.
Những cơn đau dữ dội do bệnh gút có thể khiến cho người bệnh đi lại khó khăn, thậm chí chỉ cần tác động nhẹ cũng khiến cho người bệnh đau đớn. Theo thống kế thì: 70% người bệnh gút có triệu chứng đầu tiên là đau ngón chân cái. Ngoài ra, bệnh gút có thể tấn công tới bất kỳ các khớp chi khác như khớp gối, mắt cá chân, khớp ngón tay, cổ tay, khuỷu tay. Nếu bệnh gút không được điều trị, nó có thể tiến triển và ảnh hưởng tới nhiều khớp xương của cơ thể.
Triệu chứng của bệnh gút thường gặp
Triệu chứng đau lan tới các khớp khác
Rất khó có thể dự đoán khi nào các triệu chứng của bệnh gút xuất hiện. Các triệu chứng có thể phát triển nhanh chóng trong một vài giời và kéo dài 3 – 10 ngày. Sau thời gian này, người bệnh sẽ cảm thấy bình thường trở lại khi các cơn đau biến mất hoàn toàn.
Chỉ hơn một nửa số bệnh nhân gút (62%) bị tái phát bệnh gút trong vòng 1 năm. Người bệnh có xuất hiện các triệu chứng lặp lại trong một vài tuần hoặc vài tháng nhưng không thể đoán được chính xác khi nào sẽ xảy ra. Ở một số người bệnh, các triệu chứng chỉ xuất hiện một vài lần trong cuộc đời mà không gây nguy hiểm cho sức khoẻ.
Khi nào cần đi khám bác sĩ?
Nếu xuất hiện các triệu chứng của bệnh gút, người bệnh cần đi khám bác sĩ, đặc biệt là khi đó là triệu chứng lần đầu. Đôi khi triệu chứng sưng khớp là dấu hiệu của một nhiễm trùng nghiêm trọng khác và cần được chuẩn đoán điều trị.
Triệu chứng bệnh gut
Sưng khớp 2 ngón chân cái do gút
Trong trường hợp, sưng khớp kèm theo triệu chứng sốt cao trên 38 độ, người bệnh cần tới bệnh viên ngay lập tức vì đó có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng bên trong khớp (Viêm khớp tự hoại).

Đau lưng sau khi quan hệ là một tình trạng phổ biến do căng cơ bắp hoặc căng dây chằng khi quan hệ. Các cơn đau hạn chế sự linh hoạt và vận động của người bệnh. Dưới đây là lời khuyên giúp bạn thoát khỏi tình trạng này

Quá trình điều trị đau lưng là quá trình áp dụng lâu dài và phối hợp nhiều phương pháp khác nhau. Nó đòi hỏi người bệnh phải kiên nhẫn. Dưới đây là những gợi ý mà bạn có thể áp dụng tài nhà.

Đau lưng sau khi quan hệ do căng cơ bắp
Nghỉ ngơi/thư giãn: Nếu bạn bị đau lưng sau khi quan hệ, thì việc cần làm sau đó là nghỉ ngơi và thư giãn. Tình trạng đau lưng có thể thuyên giảm sau một vài tuần nghỉ ngơi hợp lý. Tuy nhiên, không nên kéo dài thời gian không hoạt động vì có thể dẫn tới tình trạng teo cơ bắp.
Sử dụng thuốc giảm đau không cần kê toa: Một số loại thuốc giảm đau kháng viêm như ibuproèn hoặc naxopren có thể giảm bớt cảm giác đau lưng. Nếu thuốc giảm đau không cần kê toa không làm giảm các triệu chứng đau sau một vài tuần thì cần đi khám bác sĩ để được dùng thuốc giảm đau mạnh hơn hoặc thuốc giãn cơ.
Biện pháp chữa đau lưng sau khi quan hệ
Nhiều thuốc giảm đau có tác dụng tại chỗ
Vật lý trị liệu: Biện pháp này đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm đau lưng sau khi quan hệ. Thậm chí người bệnh không cần tới bác sĩ châm cứu và có thể dùng các biện pháp an toàn tại nhà như chườm nóng hoặc lạnh để giảm sưng và đau. Ngoài ra, nên kết hợp với các bài tập vận động cơ bắp để cải thiện tính linh hoạt và thay đổi tư thế khi quan hệ.
Thảo dược bổ sung: Đau lưng có thể điều trị thông qua sử dụng một số loại thảo dược nhất định. Mặc dù chỉ là kinh nghiệm lưu truyền trong dân gian nhưng những thảo mộc sau được chứng minh có tác dụng giảm đau như ớt (bôi tại chỗ), vỏ cây liễu (uống)
Mát-xa: Mát-xa sẽ giúp cải thiện tình trạng đau lưng sau khi quan hệ do căng thẳng và cơ bắp phải làm việc quá sức. Mát-xa giúp thư giãn và thả lỏng cơ bắp, từ đó chữa đau lưng hiệu quả.
Cách giảm đau lưng sau khi quan hệ cực hiệu quả
Mát-xa có tác dụng giảm đau lưng sau khi quan hệ
Nếu áp dụng các biện pháp trên nhưng triệu chứng đau lưng vẫn không thuyên giảm, người bệnh nên đi khám bác sĩ để tìm ra nguyên nhân thực sự. Đau lưng có thể là dấu hiệu của bệnh mãn tính khác như bệnh thận…

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

Cách điều trị đau lưng không dùng thuốc rất an toàn và hiệu quả chắc chắn bất cứ ai cũng có thể áp dụng và cho hiệu quả như mong đợi.


Ai trong đời cũng từng bị đau lưng, thậm chí đau dữ dội cũng mắc phải. Cách điều trị đau lưng không dùng thuốc sau là những mẹo nhỏ được mọi người truyền tai nhau và các tác dụng tức thì. Bạn thử vận dụng nhé.
Nguyên nhân đau lưng có rất nhiều lí do: Do cơ thể nhiễm lạnh, nằm sau tư thế, ngồi lâu, thiếu caxi, loãng xương, vận động quá nhiều, viêm khớp… Vì thế, cách chữa trị sẽ là sự kết hợp giữa vận động và dinh dưỡng đúng cách.
Cách điều trị đau lưng không dùng thuốc 1
Khi đang làm việc
Đang làm việc, bạn bỗng bị đau lưng, cách tốt nhất là bạn nên đứng lại, đi đi lại lại cho khí huyết không bị tắc và máu dễ lưu thông, các cơ sẽ co giãn dần ra và bạn dễ chịu trở lại.
Cách điều trị đau lưng không dùng thuốc 2
Một số động tác vặn mình, xoay vai cũng thích hợp với dân công sở, giúp chống đau lưng.
Giờ nghỉ trưa,  trước khi ngủ bạn vận động một chút, nằm co chân lên 1 lúc, sau đó nằm nghiêng bên trái, giơ 1 chân lên cao, rồi xoay người sang bên kia, giơ chân bên đối diện lên. Các khớp xương sẽ dần dần mềm mại hơn, không còn đông cứng nữa. Đây là cách điều trị đau lưng vô cùng hiệu quả.
Khi ở nhà
Chịu khó tập vài động tác lưng, như hít đẩy, gập bụng, đá chân, đi bộ, tập yoga, tập gym…
Nằm nghỉ ngơi thư giãn, nghe nhạc. Vừa cho tay xoa bóp vùng lưng để thư giãn.
Cách điều trị đau lưng không dùng thuốc 3
Tắm nước ấm để cơ thể thoải mái, dễ chịu hơn. Trong quá trình tắm bạn không được quên mát xa toàn cơ thể. Nó không chỉ có tác dụng giúp bạn ngủ ngon, khỏe mạnh, hết đau lưng mà còn giúp bạn giảm cân nữa đấy.
Bổ sung sữa, can xi, thức ăn giàu đạm, xơ cho cơ thể bạn.
Khi đau
Chườm khăn nóng lên lưng, đắp lên vùng cột sống lưng khoảng 30 phut cho giãn cơ, mạch máu.
Hoặc cũng có thể chườm lạnh, giúp giảm đau tức thì.
Lấy lá lốt đắp giã lên lưng, hoặc lấy muối rang nóng, đắp lên dọc cột sống lưng, điều hòa khí huyết.
Cách điều trị đau lưng trên rất hiệu quả cho mọi lứa tuổi. Chắc chắn sẽ đem đến cho bạn sảng khoái, tự tin và năng động hơn mỗi ngày.
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -